Khu vực Thương mại Tự do ASEAN-Trung Quốc (ACFTA) được bắt đầu với việc ký kết Hiệp định Khung về Hợp tác Kinh tế Toàn diện vào năm 2002 và bao gồm một trong những khu vực thương mại tự do lớn nhất thế giới với thị trường hơn 1,9 tỷ người.
Theo ACFTA, thuế quan đối với hơn 7.000 chủng loại sản phẩm được giảm xuống 0, dẫn đến việc Trung Quốc trở thành đối tác thương mại lớn nhất của ASEAN kể từ năm 2009. Tuy nhiên, trong năm 2020, ASEAN đã nhảy lên vị trí số một khối thương mại với Trung Quốc, đạt 731 tỷ USD trong tổng khối lượng thương mại; tăng trưởng 7% hàng năm. ASEAN đã vượt qua EU để giành vị trí hàng đầu một phần do việc Vương quốc Anh rời khỏi liên minh. Hơn nữa, trước khi đại dịch bùng phát, các nhà sản xuất có trụ sở tại Trung Quốc đã tăng cường quan hệ chặt chẽ hơn với các nước láng giềng ASEAN để tránh các mức thuế nhập khẩu do Mỹ áp dụng đối với hàng hóa do Trung Quốc sản xuất.

2. Đơn giản hóa các quy tắc cho thương mại dịch vụ: Nghị định thư nêu chi tiết các quy tắc cụ thể để tiếp cận thị trường cho các lĩnh vực, chẳng hạn như dịch vụ kỹ thuật, xây dựng, thể thao, chăm sóc sức khỏe, chứng khoán và du lịch. Các quy tắc được đưa ra dưới dạng bảng trong Phụ lục 2 của Nghị định thư - trong đó nêu rõ quan điểm của Trung Quốc đối với từng nước thành viên ASEAN về những hạn chế trong tiếp cận thị trường và những hạn chế về đối xử quốc gia.
3. Tăng cường các điều khoản đầu tư: Bản sửa đổi bổ sung các điều khoản kêu gọi các bên thành viên: đơn giản hóa thủ tục đăng ký đầu tư, cải thiện khả năng tiếp cận luật, quy tắc, quy định và thủ tục đầu tư và sử dụng các cơ quan xúc tiến đầu tư hiện có khi cần thiết.
4. Cải thiện hợp tác kinh tế và kỹ thuật đa phương: Theo các sửa đổi, các bên tương ứng được khuyến khích tiến hành hợp tác kinh tế và kỹ thuật sâu hơn trên các hoạt động mang lại lợi ích chung. Các lĩnh vực trọng tâm được đề cập trong Nghị định thư bao gồm: Các vấn đề liên quan đến thương mại; Nông, ngư nghiệp, lâm, lâm sản; Công nghệ thông tin và truyền thông; Phát triển nguồn nhân lực; đầu tư; thương mại dịch vụ; Du lịch; Hợp tác công nghiệp; giao thông vận tải; quyền sở hữu trí tuệ; Doanh nghiệp vừa và nhỏ; Môi trường; và Các lĩnh vực khác liên quan đến hợp tác kinh tế và kỹ thuật mà các Bên có thể thoả thuận.
Trong khi nhiều quốc gia dường như lựa chọn chủ nghĩa bảo hộ đang gia tăng, thì khu vực Đông Nam Á và Trung Quốc đang tích cực củng cố mối quan hệ thương mại và đầu tư khu vực và toàn cầu mạnh mẽ hơn. Trong 'Tầm nhìn Đối tác Chiến lược ASEAN-Trung Quốc 2030' được thông qua năm ngoái, hai bên nhất trí hiện thực hóa mục tiêu đạt 1 nghìn tỷ USD thương mại song phương và 150 tỷ USD đầu tư vào năm 2020. Phù hợp với điều này, Trung Quốc và ASEAN đã tham gia Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP), được ký kết vào ngày 15 tháng 11 năm 2020, được kỳ vọng sẽ thúc đẩy hội nhập kinh tế và thương mại giữa các thành viên ASEAN và năm đối tác thương mại - Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia và New Zealand. Kể từ khi ACFTA có hiệu lực, thị phần của Trung Quốc trong tổng thương mại hàng hóa của ASEAN đã tăng từ 8% vào năm 2004 lên 21% vào năm 2018. Với dân số lớn và tiềm năng tăng trưởng cao, khu vực ASEAN tiếp tục mang lại nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp. Nghị định thư nâng cấp đối với FTA ASEAN-Trung Quốc cũng cho phép Trung Quốc tiếp cận tốt hơn với khu vực láng giềng nói chung và đa dạng hóa trọng tâm của mình khỏi các thị trường châu Âu và Mỹ.