
Kể từ ngày Hiệp định thương mại phương giữa Việt Nam – Hoa Kỳ có hiệu lực 10/12/2001, theo nguyên tắc tối huệ quốc Hoa Kỳ áp dụng cho Việt Nam, việc đánh thuế đối với hàng hóa nhập khẩu từ Việt Nam vào Hoa Kỳ đã giảm từ trung bình 40% xuống còn 3%, Hoa Kỳ thực hiện xóa bỏ thuế suất cao ở hầu hết các lĩnh vực và mở cửa thị trường cho xuất khẩu từ Việt Nam. Theo số liệu của Ủy ban Thương mại quốc tế Hoa Kỳ, xuất khẩu từ Việt Nam vào Hoa Kỳ tăng từ 5.7% (năm 2000) đến 7% (năm 2001) và 14.1% (năm 2002).
Bên cạnh đó, BTA yêu cầu Việt Nam tuân thủ triển khai các cam kết trên các lĩnh vực cụ thể. Đó là, thực hiện nguyên tắc có đi có lại giữa hai quốc gia được quy định trong BTA, đáp lại ưu đãi thuế quan từ quy chế tối huệ quốc Hoa Kỳ dành cho Việt Nam, Việt Nam được yêu cầu cung cấp quy chế tối huệ quốc và đối xử quốc gia dành cho các công ty và công dân Hoa Kỳ. Cụ thể, BTA yêu cầu Việt Nam cung cấp quy chế tối huệ quốc và đối xử quốc gia cho hầu hết các hoàng hóa dịch vụ thương mại và quạn hệ đầu tư, ngoại trừ một số danh mục được nêu trong BTA. BTA cũng yêu cầu Việt Nam đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế về thủ tục hải quan với việc cải cách hệ thống thuế quan và thủ tục thuế quan. Tự do hóa và đơn giản hóa các thủ tục cấp giấy phép cho các hoạt động xuất – nhập khẩu, giải quyết các tranh chấp thương mại theo các nguyên tắc phân xử được quốc tế công nhận; tăng cường mạng lưới pháp lý, thủ tục tư pháp và các cơ chế thực thi để cải thiện các quyền bảo vệ sở hữu trí tuệ (bao gồm quyền bản quyền, nhãn hiệu, bị mật thương mại, thiết kế công nghiệp, tín hiệu vệ tinh được mã hóa, bố cục thiết kết mạch tích hợp, các giống cây trồng). Theo quy định của BTA, Việt Nam cam kết cải thiện tiếp cận thị trường dành cho cung cấp dịch vụ từ Hoa Kỳ ở hơn 20 lĩnh vực, trong đó có các dịch vụ về kinh doanh (như dịch vụ kiểm toán, dịch vụ tư pháp, dịch vụ kỹ thuật,, quảng cáo, nghiên cứu thị trường, dịch vụ tư vấn quản lý), các dịch vụ thông tin viễn thông, các dịch vụ xây dựng kĩ thuật, các dịch vụ phân phối bán lẻ, các dịch vụ giáo dục, tài chính (như bảo hiểm, tài chính ngân hàng), du lịch và các dịch vụ liên quan du lịch. Các yêu cầu bắt buộc về tự do hóa và bảo vệ đầu tư nước ngoài, tạo điều kiện cho các quan hệ đầu tư thương mại, tăng cường tính minh bạch của luật pháp, các quy định và thủ tục hành chính, phát triển hệ thống tòa án hành chính và tư pháp được đặt ra cho Việt Nam, theo quy định của BTA. Nội dung về các điều khoản bắt buộc nêu trên được nêu rõ trong BTA.

Theo số liệu thống kê của Ngân hàng thế giới, tăng trưởng GDP của Việt Nam giao động trong khoảng 5.4% đến 7.5% trong khi GDP toàn cầu và GDP của Hoa Kỳ giao động dưới 5% trong giai đoạn 2000-2019. Ngay cả trong giai đoạn hậu khủng hoảng tài chính – kinh tế toàn cầu 2007-2009, tăng trưởng GDP của Việt Nam đạt 5.%-5.7% trong khi thế giới và Hoa Kỳ đạt tăng trưởng âm.

Tuy nhiên, Hoa Kỳ được xem là nền kinh tế số một trên thế giới, quy mô GDP của Hoa Kỳ vì vậy cũng lớn hơn rất nhiều so với quy mô GDP của Việt Nam. Quan hệ thương mại giữa hai nước Việt Nam – Hoa Kỳ được đẩy mạnh trong thời gian vừa qua, giá trị sản lượng xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ luôn cao hơn giá trị sản lượng nhập khẩu từ Hoa Kỳ sang thị trường Việt Nam. Hoa Kỳ là đối tác thương mại quan trọng của Việt Nam – một trọng những thị trường xuất khẩu trọng điểm của Việt Nam. Một điểm lưu ý là, các mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ tập trung vào hàng hóa tiêu dùng (các sản phẩm may mặc, giày dép, điện thoại, máy móc, hải sản,…) trong khi mặt hàng xuất khẩu chính của Hoa Kỳ sang Việt Nam là vốn đầu tư sản xuất, công nghệ,…
Cùng với BTA, nhiều hiệp định tự do thương mại Việt Nam đã ký kết tham gia và đã có hiệu lực, như CPTPP (có hiệu lực với Việt Nam từ ngày14/01/2019) và EVFTA (có hiệu lực với Việt Nam từ ngày 01/8/2020), cơ hội cho Việt Nam trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh (chất lượng sản phẩm, mẫu mã, giá thành,…), tiếp cận khoa học – công nghệ thông qua các chương trình hợp tác kỹ thuật với các bên liên quan, mở rộng tiếp cận thị trường của các đối tác thương mại quan trọng trong khu vực, như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Ốt-xờ-trây-li-a, việc đa dạng hóa thị trường xuất khẩu cũng như đa dạng hóa các nguồn nguyên liệu đầu vào cho hoạt động sản xuất – kinh doanh sẽ tạo thuận lợi cho Việt Nam nâng cao năng lực sản xuất và tăng chất lượng xuất khẩu, tham gia hiệu quả hơn vào chuỗi giá trị trong khu vực và toàn cầu./.