Người dân tại các thành phố đô thị ở một quốc gia đang phát triển mong muốn di chuyển bằng phương tiện gì khi đi lại trong thành phố mình trong 5-10 năm tới? Đó là mong muốn sử dụng phương tiện giao thông công cộng hiện đại, đồng bộ và tích hợp thay vì sử dụng phương tiện cá nhân như chiếc xe máy chạy bằng xăng.
Sống và làm việc tại các thành phố đô thị ở Việt Nam, người dân nhiều hay ít đều đã đương đầu với cảnh tắc đường, khói bụi, nóng nực hay những trận mưa lớn gây ngập tạm thời trên một số con đường/con phố làm xe máy không thể chạy vì đường ngập nước… Trong thế kỷ 21 khi mà công nghệ có những bước tiến vượt bậc với nhiều ứng dụng hiệu quả đối với các lĩnh vực trong đời sống kinh tế - xã hội của con người, việc ứng dụng công nghệ vào phát triển hệ thống công cộng hiện đại và tích hợp được xem là một hướng đi tất yếu của các thành phố đô thị ở quốc gia đang phát triển hướng tới mục tiêu phát triển xanh, bền vững. Nói cách khác, phát triển hệ thống công cộng hiện đại, đồng bộ và tích hợp là một phần trong nỗ lực xây dựng giao thông xanh.
Giao thông xanh là gì? – Đó là một hệ thống giao thông không gây ô nhiễm đến môi trường sống của con người. Theo cách hiểu phổ biến hiện nay, giao thông xanh là một hệ thống giao thông sử dụng hiệu quả các nguồn năng lượng để hạn chế tối ưu phát thải khí CO2 ra môi trường. Giao thông xanh cũng được hiểu là giao thông bền vững, tập hợp các loại hình phương tiện giao thông không phụ thuộc vào các nguồn năng lượng hoá thạch và sử dụng các loại hình giao thông dựa trên các nguồn năng lượng tái tạo, ít ảnh hưởng đến môi trường (Arnab Adhikari, Indranil Biswas, Balram Avittathur, 2016)[1]. Tại Hội nghị thượng đỉnh của Liên hợp quốc về Trái đất (1992), vai trò của giao thông trong phát triển bền vững đã được ghi nhận; và tại Hội nghị về Phát triển bền vững (2002), vai trò của giao thông tiếp tục được ghi nhận trong Kế hoạch triển khai Johannesburg – tại đó, giao thông bền vững được xác định bằng các yếu tố: hệ thống giao thông công cộng hiện đại phát triển, cải thiện chất lượng không khí ở đô thị và sức khoẻ của người dân sinh sống ở đô thị, và cắt giảm khí thải nhà kính[2].
Trong bối cảnh tỷ lệ giữa lượng người sử dụng phương tiện di chuyển công cộng và lượng người sử dụng phương tiện di chuyển cá nhân, và tỷ lệ giữa số lượng phương tiên vận chuyển chạy bằng các nguồn năng lượng thân thiện với môi trường và số lượng phương tiện vận chuyển chạy bằng xăng dầu (diesel/gas) còn có sự chênh lệch lớn giữa quốc gia đang phát triển, việc hiện thực hoá hệ thống công cộng hiện đại, tích hợp như một phần nỗ lực xây dựng giao thông xanh được xem là một tham vọng.
Những thập niên vừa qua, nhất là trong thập niên đầu của thế kỷ 21, con người ở nhiều nơi trên thế giới đã được trải nghiệm những ảnh hưởng nặng nề từ biến đổi khí hậu toàn cầu – mà một trong những nguyên nhân chính đến từ việc con người gây ô nhiễm môi trường thông qua tăng trưởng dân số toàn cầu, bùng nổ các thành phố đô thị, kéo theo sự gia tăng chóng mặt các nhu cầu trong sinh hoạt – tiêu dùng của con người trong đó có nhu cầu sử dụng phương tiện giao thông chạy bằng các nguồn nguyên liệu hoá thạch như xăng diesel,..

Tăng trưởng dân số trên thế giới theo thời gian từ năm 1950 đến năm 2021. Đơn vị tính: Tỷ người. Nguồn: Bộ phận Dân số, Liên hợp quốc, dữ liệu năm 2019.

Tiêu thụ năng lượng hoá thạch (bao gồm: than đá, dầu, gas) trên toàn cầu tăng mạnh từ năm 1950 đến 2019. Đơn vị tính: TWh. Nguồn: Vaclav Smil (2017).

Trung Quốc xếp vị trí số 1 về đăng ký mới xe ô-tô trên thế giới, đến vị trí thứ hai là Hoa Kỳ. Đơn vị tính: Triệu đơn vị. Nguồn: Statista 2021.
Nhu cầu sử dụng phương tiện cá nhân như xe ô-tô, xe máy chạy bằng xăng vẫn chiếm tỉ lệ cao trên thế giới. Theo thống kê của Statista năm 2019, Trung Quốc đứng đầu thế giới với 141.7 exajoules, Hoa Kỳ đứng thứ hai thế giới với 94.65 exajoules, và Ấn Độ đứng thứ ba với 34.06 exajoules[3]. Theo dữ liệu năm 2018 của Cơ quan Năng lượng thế giới (IEA), lượng khí phát thải nhà kính từ giao thông chiếm 21% tổng lượng khí thải toàn cầu; và trong tỷ lệ đó, khí thải nhà kính từ xe ô-tô và xe buýt chiếm 45.1%, khí thải từ xe tải, containers, hàng không, và vận chuyển đường biển lần lượt chiếm 29.4%, 11.6% và 10.6%. Theo số liệu IEA công bố năm 2018, trong số 20 quốc gia phát thải nhiều khí CO2 nhất trên thế giới, Trung Quốc giữ vị trí số một với 10.06GT, Hoa Kỳ đứng thứ hai với 5.41GT, Ấn Độ đứng thứ ba với 2.65GT[4]. IEA cũng ước tính rằng, đến 2070, tỉ lệ sở hữu xe ô-tô tăng 60% trong khi nhu cầu di chuyển người và hàng hoá bằng đường hàng không sẽ tăng gấp 03 lần, và giao thông sẽ là nguồn đóng góp lớn nhất cho việc phát thải khí nhà kính trong năm 2070[5].

Lượng phát thải khí nhà kính ở Việt Nam tăng từ 0.3 tấn (1990) lên 2.1 tấn (2016) trong khi Trung Quốc tăng từ 2.2 tấn (1990) lên 7.2 tấn (2016) và Hoa Kỳ giảm từ 19.3 tấn (1990) xuống còn 15.5 tấn (2016). Nguồn: World Bank[6].
So sánh với Hoa Kỳ, Trung Quốc, lượng phát thải khí nhà kính ở Việt Nam là rất khiêm tốn, mặc dù lượng khí thải ra môi trường ở Việt Nam tăng khoảng bảy lần tính từ năm 1990 đến năm 2016. Sự so sánh nêu trên có thể là khập khiễng, bởi quy mô nền kinh tế, dân số, nhu cầu sinh hoạt, tiêu thụ năng lượng ở Việt Nam khác với hai quốc gia lớn nêu trên… Tuy nhiên, là một quốc gia ven biển chịu nhiều tác động từ biến đổi khí hậu toàn cầu, Việt Nam nhận thức về vai trò của phát triển giao thông công cộng hiện đại, tích hợp là một phần của phát triển giao thông xanh, bền vững, là một công cụ quan trọng giúp giảm thiểu tác hại từ biến đổi khí hậu, đóng góp bảo vệ môi trường, bảo vệ sức khoẻ của người dân, và sự mở rộng và phát triển bền vững của các thành phố đô thị ở Việt Nam. Thực tế cho thấy, trong thời gian vừa qua, tăng trưởng kinh tế, tăng dân số cơ học, tốc độ đô thị hoá nhanh, công nghiệp hoá mạnh mẽ tại các thành phố lớn Hà Nội, Hồ Chí Minh, Hải Phòng,…mang theo những thách thức như tắc đường, ô nhiễm không khí, ô nhiễm tiếng ồn, tai nạn giao thông, và những thách thức này cần sớm phải được giải quyết kịp thời. Một vấn đề hiện rõ trong giao thông ở Việt Nam hiện nay là phương tiện xe máy và ô-tô vẫn là chủ đạo, trong đó xe máy chiếm vị trí quan trọng trong đi lại của người dân, nhất là ở các thành phố đô thị lớn (như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng,…), bởi xe máy vẫn là phương tiện giao thông thiết yếu của số đông người dân và cơ sở hạ tầng giao thông công cộng ở Việt Nam còn hạn chế. 85% dân số Việt Nam sử dụng xe máy để đi lại hàng ngày[7].

Xe máy và ô-tô cá nhân là những phương tiện phổ biến trong giao thông tại các đô thị ở Việt Nam. Ảnh: Nhantran.
Bên cạnh những ưu điểm về tính nhỏ gọn, tiện lợi, cơ động của xe máy đối với việc đi lại tại các thành phố đô thị lớn ở Việt Nam, những hạn chế của việc sử dụng xe máy cũng được chỉ ra, như là: chi phí cho việc sử dụng xe (xăng, bảo hiểm,…) và bảo dưỡng xe máy, chưa kể lượng khí thải CO2 đóng góp vào môi trường, ảnh hưởng đến chất lượng không khí, tiếng còi xe gây ô nhiễm tiếng ồn, ảnh hưởng đến chất lượng sống của người dân.
Cùng với xu thế phát triển chung của khu vực và thế giới, phát triển hệ thống giao thông công cộng hiện đại, đồng bộ kết nối xe buýt tốc độ nhanh, đường sắt trên cao, đường sắt nội đô, tàu điện ngầm là hướng đi tất yếu đối với một quốc gia đang phát triển và chuyển mình mạnh mẽ như Việt Nam với tốc độ mở rộng và phát triển của các đô thị lớn. Nhận thức về tầm quan trọng của phát triển giao thông công cộng, tại Quyết định số 355/QĐ-TTg ngày 25/02/2013 về việc điều chỉnh chiến lược phát triển giao thông vận tải đến năm 2020 tầm nhìn đến năm 2030, nội dung phát triển hợp lý hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông đô thị và vận tải công cộng, phát triển mạnh hệ thống xe buýt, đầu tư xây dựng các tuyến vận tải công cộng khối lượng lớn như đường sắt trên cao, tàu điện ngầm tại các thành phố lớn được đặt ra. Theo đó, các dự án xây dựng đường sắt đô thị trên cao mới đang được triển khai tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh.

Hệ thống giao thông công cộng hiện đại, đồng bộ, kết nối đóng góp cho mục tiêu phát triển bền vững. Ảnh: Internet.
Phát triển hệ thống giao thông công cộng đồng bộ, hiện đại, kết nối sẽ giúp giải quyết những vấn đề về tắc nghẽn giao thông, ô nhiễm môi trường, giảm những chi phí không cần thiết (thời gian, tiền bạc) cho người dân, hiệu quả trong sử dụng các nguồn năng lượng, đóng góp vào bảo vệ môi trường, hướng tới giao thông xanh, bền vững. Một điểm tiện lợi mang lại từ hệ thống giao thông công cộng đồng bộ, hiện đại, kết nối nêu trên là sự tích hợp và phát triển các địa điểm dịch vụ ăn uống, mua sắm, giải trí với hạ tầng giao thông công cộng (các nhà ga), tăng tính tiện lợi và sự sống động của cuộc sống đô thị, cũng như mở ra nhiều việc làm mới cho lực lượng lao động. Khi nào thì hệ thống giao thông công cộng hiện đại tích hợp như ở các thành phố lớn Tokyo (Nhật Bản), Seoul (Hàn Quốc), Singapore (Singapore), Kuala Lumpur (Malaysia), Đài Loan (Trung Quốc), hay như ở nhiều thành phố lớn khác ở châu Âu và Bắc Mỹ có thể thành hiện thực ở một nước đang phát triển như Việt Nam? – Câu trả lời sẽ tùy thuộc vào quyết tâm, nỗ lực và chung tay của Chính phủ, người dân và doanh nghiệp./.[1] https://www.igi-global.com/chapter/green-retailing/145956
[2] Trang 12, Kế hoạch triển khai Johannesburg, bản pfd. được đăng tải tại https://www.un.org/esa/sustdev/documents/WSSD_POI_PD/English/WSSD_PlanImpl.pdf
[3] https://www.statista.com/statistics/263455/primary-energy-consumption-of-selected-countries/#professional
[4] https://www.ucsusa.org/resources/each-countrys-share-co2-emissions
[5] https://ourworldindata.org/co2-emissions-from-transport
[6] https://data.worldbank.org/indicator/EN.ATM.CO2E.PC?locations=VN-CN-US&start=2000
[7] https://vietnamnet.vn/vn/oto-xe-may/xe-may-tai-viet-nam-nhung-con-so-giat-minh-327440.html