Xây dựng khu thương mại tự do tại Hải Phòng và một số kiến nghị về giải pháp triển khai thực hiện

Khu thương mại tự do là một trong những gợi ý chính sách hàng đầu, được áp dụng và triển khai hiệu quả tại nhiều quốc gia trên thế giới từ những năm cuối của thế kỷ XX.Cho đến giai đoạn hiện nay, đây vẫn là xu hướnglớn để các thành phố, địa phương nghiên cứuđổi mới, áp dụng, triển khai nhằm tranh thủ thu hút tối đa các nguồn lực đầu tư - thương mại - công nghệ trong bối cảnh cạnh tranh đa cấp độ, sâu sắc và toàn diện. Mô hình này được áp dụng chủ yếu ở các thành phố, địa phương, vùng lãnh thổ có tiềm lực, lợi thế phát triển, vị trí địa kinh tế thuận lợi cho giao thương - hợp tác hội nhập, đóng vai trò đầu tàu kéo nền kinh tế quốc gia. Với thế mạnh được hun đúc qua bề dày lịch sử phát triển, là cửa ngõ ra biển của khu vực Bắc Bộ, một trong những trung tâm kinh tế động lực của Vùng Đồng bằng sông Hồng và cả nước, Hải Phòng đã có nhiều bước chuyển mình mạnh mẽ trong phát triển kinh tế - xã hội, đạt được nhiều kết quả hết sức quan trọng. Tuy nhiên, tốc độ và kết quả phát triển mà thành phố gặt hái được vẫn chưa thực sự tương xứng với tiềm năng, thế mạnh, tầm nhìn và yêu cầu phát triển, đặc biệt là sau khi Nghị quyết 45-NQ/TW của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển Hải Phòng trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa được ban hành đặt mục tiêu cho Hải Phòng phải trở thành thành phố phát triển hàng đầu khu vực và Châu Á trong những thập niên tới. Để có thể hiện thực hóa các mục tiêu này, thành phố đã đề xuất Trung ương cho phép thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù trong phát triển, trong đó đang nghiên cứu, xin ý kiến Bộ Chính trị về chủ trương xây dựng khu thương mại tự do. Bài viết này sẽ phân tích một số khía cạnh xây dựng mô hình khu thương mại tự do tại Hải Phòng và đề xuất một số giải pháp triển khai thực hiện.

  1. Định nghĩa và đặc trưng của khu thương mại tự do

Khái niệm Khu thương mại tự do (Free Trade Zone) xuất phát từ thuật ngữ khu kinh tế (Economic Zones), xuất hiện từ thập niên 70 của thế kỷ XX. Trong đó tiên phong nghiên cứu là các nhà kinh tế/ học giả: Hamada [1974], Rodriguez [1976] và Hamilton, Svensson [1980], Wall [1976], Fernstrom [1976], Ping [1979] and Diamond [1979]. Theo Công ước Kyoto sửa đổi năm 1999, một “khu vực tự do” (Free Zones) có nghĩa là một phần lãnh thổ của một bên ký kết mà bất kỳ hàng hóa nào được kể ra, nhìn theo góc độ thuế nhập khẩu và thuế quan, được coi là nằm ngoài lãnh thổ hải quan”.Theo Pavlov, Pavel V và các cộng sự , thực tiễn về sự phát triển các khu kinh tế chỉ ra rằng các cách tiếp cận định nghĩa về khu kinh tế đến nay còn chưa thực sự thống nhất.

Tuy chưa có cách hiểu thống nhất về khái niệm khu thương mại tự do nhưng từ những nghiên cứu tổng quan có thể khẳng định khu thương mại tự do (Free Trade Zones - FTZs) là một loại hình khu kinh tế, có không gian địa lý - kinh tế được Nhà nước xác định, có lợi thế nhất định về vị trí địa lý, môi trường đầu tư và kinh doanh thuận lợi cho các nhà đầu tư, được Nhà nước cho phép xây dựng và phát triển, vận hành bởi khung pháp lý có tính ưu đãi, mở cửa theo các thông lệ quốc tế, đảm bảo miễn trừ thuế quan, hạn ngạch, và ưu đãi trong phần lớn trao đổi thương mại hàng hóa và dịch vụ, nhằm mục tiêu thúc đẩy xuất khẩu, tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài và đẩy mạnh hội nhập quốc tế. Khu thương mại tự do là nơi được ưu tiên về chính sách thuế, môi trường đầu tư cũng như thu hút kỹ thuật, chính sách quản lý hiện đại.Đây là một khái niệm mới chưa được đề cập trong hệ thống pháp luật nước ta và không nằm trong quy định tại Nghị định 82/2018/NĐ-CP ngày 22/5/2018 của Chính phủ quy định về quản lý khu công nghiệp và khu kinh tế.

Ảnh: Thâm Quyến - Khu thương mại tự do thành công điển hình của Trung Quốc, nguồn: https://greenmore.vn/canh-quan-cong-vien-nhieu-tang-cua-trung-tam-thuong-mai-do-thi-tham-quyen/

Một số đặc trưng của khu thương mại tự do (FTZs):

- Thuế xuất nhập khẩu là không bắt buộc đối với hàng hóa nước ngoài trừ khi và cho đến khi được nhập vào lãnh thổ để tiêu dùng trong nước. Tại thời điểm đó, nhà nhập khẩu nói chung có quyền chọn trả thuế ở mức nguyên liệu nước ngoài ban đầu hoặc sản phẩm hoàn chỉnh.

- Trong khu thương mại tự do, hàng hóa không phải chịu thuế xuất nhập khẩu. Hàng hóa chỉ phải chịu thuế khi được chuyển sang khu vực hàng hóa tiêu dùng trong nước.

- Miễn thuế xuất khẩu khi xuất khẩu hàng hóa ra khỏi khu thương mại tự do.

- Đảm bảo cải thiện tuân thủ, theo dõi hàng tồn kho và kiểm soát chất lượng theo quy trình chặt chẽ.

- Hàng hóa có thể được lưu trữ trong FTZs vô thời hạn, dù là có phải chịu thuế hay không phải chịu thuế.

Phân biệt khu thương mại tự do (FTZs) với đặc khu kinh tế (SEZs) và khu vực mậu dịch tự do (FTAs):

Các mô hình đặc khu kinh tế (SEZs) được thành lập và phát triển ở nhiều quốc gia trên thế giới từ vài chục năm trở lại đây, mục tiêu là để tạo ra những khu vực mở, ít chịu sự ràng buộc bởi hệ thống các quy định hành chính chồng chéo và tạo nhiều ưu đãi (về thuế, giá thuê đất, chi phí giao dịch, hạn ngạch, hải quan, quy định lao động) nhằm thúc đẩy hợp tác kinh doanh, đầu tư, kiến tạo việc làm, cũng như nâng cao hiệu quả quản lý. Ngoài ra, đặc khu kinh tế còn được xem là phòng thí nghiệm thể chế đối với các nền kinh tế chuyển đổi, từ đóng kín sang mở cửa thị trường và hội nhập quốc tế.

Đặc khu kinh tế hay khu kinh tế đặc biệt (SEZs) là khu vực có địa giới xác định, có diện tích rộng hơn khu công nghiệp, khu chế xuất thuộc lãnh thổ quốc gia. Khu vực này được áp dụng các ưu đãi về chế độ hải quan, ngoại hối, thuế, thị thực đến các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Theo thống kê, trên thế giới hiện có khoảng hơn 200 đặc khu kinh tế ở hơn 60 quốc gia, tuỳ theo từng quốc gia mà sẽ có những tên gọi khác nhau như: khu vực kinh tế tự do, khu vực công nghiệp tự do, khu vực khuyến khích xuất khẩu .

Về bản chất, đặc khu kinh tế là thay đổi cả bộ máy quản lý lẫn thể chế, còn khu thương mại tự do chỉ đổi mới về thể chế chính sách. Về căn bản, tổ chức bộ máy quản lý khu thương mại tự do không có nhiều thay đổi so với chính sách, pháp luật của quốc gia. Việc thay đổi một phần thể chế, chính sách cũng chỉ phục vụ cho tự do hóa thương mại. Đặc khu kinh tế thì có xu hướng bao hàm tất cả các ngành nghề tổng hợp, thì khu thương mại tự do chủ yếu về thương mại và một số ngành liên quan thương mại .

Trên thực tế, trên thế giới thuật ngữ, khái niệm, mô hình phát triển các khu thương mại tự do và khu kinh tế đặc biệt có khá nhiều nét tương đồng với nhau và thậm chí còn có nhiều học giả quốc tế coi hai khái niệm là đồng nhất. Do đó, dưới góc độ tiếp cận của đề tài nghiên cứu này, mặc dù vẫn phân biệt rõ các khái niệm và nội hàm nghiên cứu nhưng để đảm bảo tổng quan và có được đa góc nhìn toàn diện về kinh nghiệm phát triển các khu thương mại tự do, nhiều nội dung trong xây dựng và phát triển các khu kinh tế đặc biệt ở các quốc gia trên thế giới cũng được vận dụng, so sánh trong mô hình các khu thương mại tự do, trừ các nội dung về cải tổ chính quyền quản lý khu kinh tế đặc biệt.

Khu kinh tế tự do cũng khác so với khu vực mậu dịch tự do, trong khi khu vực mậu dịch tự do mang tính chất liên quốc gia, thì khu kinh tế tự do chỉ giới hạn trong phạm vi quốc gia đó. Khu vực mậu dịch tự do (Free Trade Areas) là hình thức hòa nhập thương mại giữa nhiều nước, trong đó các thành viên dỡ bỏ hết các hàng rào thương mại (thuế quan, hạn ngạch v.v...) giữa họ với nhau, nhưng tất cả các nước đều tiếp tục duy trì hàng rào thương mại với các nước khác. Mục đích của khu vực thương mại tự do là tận dụng những ích lợi từ chuyên môn hóa quốc tế, qua đó cải thiện mức sống thực tế của các nước thành viên. Các khu vực mậu dịch tự do tạo điều kiện cho thương mại quốc tế và những lợi ích liên quan từ thương mại, đi kèm với sự phân bổ lao động và chuyên môn hóa quốc tế. Như vậy, so với khu thương mại tự do ở góc độ địa phương, khu vực mậu dịch tự do ở góc độ quốc gia với sự tham gia của nhiều nước. Khu vực mậu dịch tự do được thiết lập trên cơ sở các thỏa thuận quốc tế giữa các quốc gia, chịu ảnh hưởng nhiều của công pháp quốc tế, trong khi khu thương mại tự do thiết lập trên cơ sở thể chế quốc gia, hoạt động theo cơ chế chính sách và luật pháp quốc gia.

Ảnh: Trung tâm tài chính công nghệ kỹ thuật số như Tokyo của Nhật Bản là một hướng đi tắt, đón đầu hợp thời đại, nguồn: https://www.asianinvestor.net/article/tokyo-accelerates-reforms-to-advance-status-as-global-financial-city/468467

  1. Sự cần thiết xây dựng Mô hình khu thương mại tự do tại Hải Phòng

Thứ nhất, vai trò của xây dựng khu thương mại tự do trong tiến trình hội nhập của đất nước và quá trình xây dựng và phát triển thành phố giai đoạn mới:

Về vai trò khu thương mại tự do, mô hình khu thương mại tự do đã và đang trở thành một mô hình phát triển kinh tế đặc trưng giúp các thành phố, địa phương đóng vai trò “đầu tàu kinh tế” trên thế giới phát triển tận dụng được các cơ hội phát triển từ quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là tranh thủ lợi ích có được từ việc tham gia các thỏa thuận thương mại tự do (FTAs) đóng vai trò nền móng dẫn dắt. Việc phát triển “điểm” theo mô hình khu thương mại tự do sẽ giúp các địa phương tận dụng tối đa lợi thế cạnh tranh so sánh và tiềm lực phát triển của mình để bứt phá toàn diện trong phát triển kinh tế cũng như mọi mặt đời sống xã hội trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu diễn ra gay gắt ở nhiều cấp độ, chủ thể. Phát triển khu thương mại tự do còn giúp đẩy nhanh quá trình tích lũy vốn và công nghệ, góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa nền kinh tế đất nước; góp phần tăng cường hoạt động kinh tế đối ngoại của quốc gia; đóng vai trò làm đầu tàu kéo theo sự phát triển của các vùng khác và cả nước; có vai trò tích cực trong việc giải quyết các vấn đề xã hội.

Đặc biệt, khu thương mại tự do cũng đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc rút ngắn thời gian và chi phí để xâm nhập vào thị trường thế giới, nhất là những thị trường có dung lượng, quy mô rất lớn. Những chính sách ưu đãi sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư, đồng thời cũng tạo môi trường thông thoáng cho hàng hóa ra nước ngoài. Đồng thời, tận dụng được chi phí thuê nhân công thấp, chi phí về nguyên vật liệu tại chỗ rẻ,… Tất cả những thuận lợi này đã giúp cho hàng xuất khẩu của khu thương mại tự do hạ được chi phí sản xuất và xuất khẩu, giảm giá thành và giá bán hàng hóa, tạo ra khả năng cạnh tranh cao, từ đó dễ dàng xâm nhập thị trường thế giới.

Ở một góc độ khác, giai đoạn từ 2016- 2020, kinh tế thành phố phát triển mạnh mẽ, luôn duy trì tốc độ tăng trưởng cao, GRDP bình quân 5 tăng 13,94%/năm, gấp 1,3 lần mục tiêu Nghị quyết Đại hội XV đề ra (10,5%/năm). Tuy nhiên, các kết quả trên chưa tương xứng với vị thế, tiềm năng và sức vóc phát triển của Hải Phòng hiện tại. Các chỉ số phát triển kinh tế, xã hội, đầu tư của địa phương chưa thực sự tương xứng với vị thế thành phố lớn thứ ba cả nước và còn giữ khoảng cách phía sau còn xa với các thành phố hàng đầu khu vực Đông Nam Á. Đơn cử như GRDP theo số liệu năm 2019: Singapore (63,990 USD/người), Jakarta - Indonesia (19,030 USD/người), Bangkok – Thái Lan (19,749 USD/ người), Kuala Lumpur - Malaysia (30,010 USD/ người),… Bên cạnh đó, đại dịch Covid-19 toàn cầu nổi lên từ năm 2019 đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế toàn cầu và phát triển kinh tế - xã hội của cả nước cũng như thành phố. Để có thể chạy đà thuận lợi và tận dụng tối đa làn sóng đầu tư quốc tế, hậu đại dịch, việc tiếp cận và đề xuất thí điểm triển khai các đột phá mới là hết sức cần thiết và mô hình khu thương mại tự do là một trong những gợi ý chính sách hàng đầu, được áp dụng và triển khai hiệu quả và thành công tại nhiều quốc gia trên toàn thế giới từ những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ XX cho đến hiện nay.

Thứ hai, chủ trương của thành phố về xây dựng khu thương mại tự do tại Hải Phòng:

Nghị quyết số 45-NQ/TW ngày 24/1/2019 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển Hải Phòng đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045 đãđề ra mục tiêu đến năm 2025 phải cơ bản hoàn thành mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa; đến năm 2030, Hải Phòng phải đạt “ tầm cỡ khu vực Đông Nam Á” và tầm nhìn đến năm 2045 “ngang tầm với những thành phố hàng đầu Châu Á và thế giới”. Để hiện thực hóa các mục tiêu trên, thành phố đã có báo cáo đề xuất Quốc hội, các cơ quan Trung ương triển khai Nghị quyết của Quốc hội về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển thành phố Hải Phòng và đang chuẩn bị nghiên cứu, đề xuất xin ý kiến Bộ Chính trị về xây dựng thí điểm khu thương mại tự do tại Hải Phòng.

Thứ ba, những tồn tại trong thu hút đầu tư, mô hình khu kinh tế, giải phóng nội lực phát triển:

Hiện nay, chính sách ưu đãi đầu tư cũng còn nhiều bất cập, vẫn chủ yếu dựa vào ưu đãi thuế, giá thuê đất, chi phí nguyên liệu ảnh hưởng đến hiệu quả thu hút dự án đầu tư. Để thu hút được đầu tư từ các tập đoàn xuyên quốc gia, nhất là từ những nước phát triển như: Mỹ và khối EU, ngoài những vấn đề liên quan đến môi trường đầu tư nói chung, thành phố cần chú trọng quan tâm đến đòi hỏi của những nhà đầu tư về một số khía cạnh như: Tính công khai, minh bạch, ổn định, dễ dự báo về thể chế, chính sách và luật pháp; thực thi pháp luật nghiêm minh, thống nhất, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư; thủ tục hành chính đơn giản, bảo đảm thời gian đã quy định.

Mô hình khu thương mại tự do là một chủ trương lớn và rộng lớn, phức tạp hơn nhiều về quy mô, quy hoạch, cơ chế, chính sách phát triển so với hoạt động của các khu kinh tế, khu/ cụm công nghiệp, chế xuất ở Hải Phòng hiện nay. Tại thời điểm hiện tại đối với hoạt động thu hút đầu tư, chủ yếu các dự án đầu tư của thành phố tập trung trong các khu công nghiệp, khu kinh tế. Tuy đạt được kết quả đáng khích lệ, nhưng có nhiều bất cập trong việc thu hút đầu tư cũng như phát triển các khu công nghiệp, khu kinh tế trong thời gian qua đặc biệt là quy mô khu công nghiệp, khu kinh tế còn trong phạm vi diện tích còn nhỏ, khó bố trí đầy đủ các hạng mục hạ tầng cần thiết, hiệu quả đầu tư sản xuất lớn chưa cao, chính sách chưa đồng bộ, thiếu sự thống nhất trên quy mô liên vùng,…

Mặt khác, trong bối cảnh dịch bệnh diễn biến phức tạp, môi trường đầu tư giảm sức hấp dẫn, nhiều kế hoạch đẩy mạnh đầu tư, nâng công suất của nhà đầu tư nước ngoài đang bị đình trệ, chuỗi cung ứng hàng hóa cho thị trường thế giới bị đứt gãy. Bên cạnh đó, trước sức cạnh tranh mạnh mẽ có các thành phố, địa phương trong khu vực, nhiều tập đoàn nước ngoài lựa chọn các quốc gia láng giềng của Việt Nam do có chính sách thu hút đầu tư hấp dẫn hơn, môi trường kinh doanh thuận lợi hơn.

  1. Một số mô hình khu thương mại tự do trên thế giới

Theo thống kê của tổ chức kinh tế thương mại lớn nhất thuộc hệ thống Liên hợp quốc (UNCTAD), đến năm 2019 trên thế giới có 5.383 khu kinh tế/ thương mại tự do tại 147 nước, cụ thể như sau: 1/ Các nước phát triển có 374 khu, chiếm 6,9% tổng số các khu kinh tế tự do; châu Âu có 105 khu, chiếm 2,0%; Bắc Mỹ có 262 khu, chiếm 4,9%; 2/ Các nước đang phát triển có 4.772 khu, chiếm 88,3%; châu Á: có 4.046 khu, chiếm 74%; châu Phi có 237 khu, chiếm 4,3%; châu Mỹ Latinh và Caribbean có 486 khu, chiếm 9%; 3/ Các nền kinh tế chuyển đổi có 237 khu, chiếm 4,3%; 4/ Các nước kém phát triển nhất có 173 khu, chiếm 3,2%; 5/ Các nước đang phát triển không giáp biển có 146 khu, chiếm 2,7%; 6/ Các quốc đảo nhỏ đang phát triển có 33 khu, chiếm 6%. Các mô hình phát triển mô hình khu thương mại tự do có thể phân chia thành các loại như sau:

1/ Khu kinh tế tự do có diện tích và ranh giới xác định, có các khu vực miễn thuế, xếp dỡ, kho bãi, phương tiện phân phối mậu dịch, chuyển tải, hệ thống tái xuất, được thiết lập tại hầu hết các cảng cửa ngõ trên thế giới, ví dụ như khu thương mại tự do Colon của Panama. Loại hình này có các đặc trưng như: mục đích nhằm thúc đẩy thương mại, thu hút đầu tư, diện tích nhỏ hơn 50 ha, có các cảng cửa ngõ quốc tế, kho ngoại quan, trung tâm xuất nhập khẩu và các hoạt động mậu dịch liên quan, thị trường nội địa và tái xuất.

2/ Khu chế xuất (Export Processing Zones - EPZ) là khu công nghiệp chuyên biệt được trao những ưu đãi đặc biệt và hạ tầng cho sản xuất, chế tạo và các hoạt động liên quan chủ yếu phục vụ xuất khẩu. Có thể chia thành 2 dạng là Khu chế xuất truyền thống (Traditional Export Processing Zones) và Khu chế xuất hỗn hợp (Hybrid Export Processing Zones).

- Mô hình khu chế xuất truyền thống có vị trí, ranh giới xác định, dành riêng cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu, được cấp phép, quản lý bởi các ban quản lý. Mô hình này có các đặc trưng như: mục tiêu phát triển là sản xuất phục vụ xuất khẩu, diện tích nhỏ hơn 100 ha, hoạt động chế tạo, chế xuất, thị trường hầu hết hướng đến xuất khẩu, ví dụ như khu chế xuất Karachi, Pakistan.

- Khu chế xuất hỗn hợp ngược lại được phân chia ra thành khu kinh tế thông thường dành cho doanh nghiệp tất cả các ngành kinh tế không cứ chỉ doanh nghiệp xuất khẩu và khu chế xuất riêng biệt dành cho xuất khẩu và các doanh nghiệp chế xuất. Mô hình này có đặc điểm tương đối giống mô hình khu chế xuất truyền thống, tuy nhiên chỉ có một phần của khu hoạt động theo mô hình khu chế xuất EPZ, ví dụ như Khu công nghiệp Lat Krabang, Thái Lan.

3/ Cảng tự do hay cảng miễn thuế (Freeport) thường được hiểu theo nghĩa rộng hơn, bao gồm một khu vực rộng lớn hơn so với tên gọi của nó với hàm ý chỉ bao gồm diện tích của khu vực cảng. Mục tiêu của mô hình là phát triển tích hợp, đa mục đích, diện tích thường trên 1000 ha, hướng đến cả thị trường nội địa và nước ngoài. Khu vực này có tất cả các hoạt động kinh tế, bao gồm cả du lịch, bán lẻ, khu dân cư, và được hưởng với các ưu đãi thuế quan, giấy phép, đất đai, thông tin, đào tạo, ưu tiên thủ tục hải quan,… Các cảng kinh tế tự do quy mô lớn như Thượng Hải, là một ví dụ điển hình cho mô hình này.

Ảnh: Cảng cửa ngõ quốc tế Hải Phòng là một trong những lợi thế cạnh tranh của thành phố để thành lập khu thương mại tự do thế hệ mới, nguồn: https://baodautu.vn/them-loi-the-canh-tranh-cho-cong-ty-co-phan-cang-hai-phong-d148599.html

4/ Khu doanh nghiệp hay còn gọi là khu vực phát triển (DA/EZs), Vùng trao quyền kinh tế (Empowerment), Khu đô thị tự do (Urban Free Zones) nhằm mục đích tái thiết khu vực đô thị hay nông thôn chậm phát triển thông qua ưu đãi thuế hay hỗ trợ tài chính. Diện tích khu doanh nghiệp thường nhỏ hơn 50 ha, đa lĩnh vực, chủ yếu phục vụ thị trường nội địa. Hầu hết các khu vực này được thiết lập ở các nước phát triển như: Hoa Kỳ, Pháp, Anh, tuy nhiên có CH Nam Phi dù là quốc gia đang phát triển nhưng cũng áp dụng mô hình tương tự.

5/ Hệ thống nhà máy chế xuất hay doanh nghiệp chế xuất đơn lẻ (Single Factory EPZ) có các ưu đãi dành riêng cho các doanh nghiệp tư nhân không phụ thuộc vào vị trí quy hoạch xác định, các nhà máy, xí nghiệp, doanh nghiệp không phải nằm trong khu vực được quy hoạch, xác định để nhận các ưu đãi và đặc quyền. Mục tiêu phát triển mô hình là sản xuất, chế xuất phục vụ xuất khẩu, thiết lập cho một số doanh nghiệp nội địa độc lập, phục vụ thị trường xuất khẩu. Điển hình cho các quốc gia áp dụng loại hình này là Madagascar, Mexico, Fiji. Một số quốc gia khác như Costa Rica, Hoa Kỳ hay Sri Lanka áp dụng cả mô hình khu công nghiệp và doanh nghiệp chế xuất.

Dù theo mô hình nào thì mô hình khu kinh tế tự do cũng bao gồm một số các nhân tố cấu trúc sau:

- Về vị trí, quy mô, có các lợi thế về điều kiện tự nhiên, khả năng tiếp cận hải cảng, sân bay, nguồn lực, nguyên vật liệu, thị trường, bảo vệ môi trường.

- Về quy hoạch (khu chế xuất, logistic, công nghiệp, nghiên cứu và phát triển, du lịch, năng lượng, phát triển ngành, lĩnh vực,...) và mục tiêu phát triển khu thương mại tự do, phát triển môi trường đầu tư, kinh doanh.

- Về thể chế, chính sách và các khuyến khích, ưu đãi thuế quan, phí, lệ phí, thuê đất đai và mặt nước, nhà ở, thủ tục hành chính, xuất nhập cảnh,...

- Về mô hình tổ chức bộ máy quản lý, quy trình vận hành, tổ chức hoạt động.

- Về cơ sở hạ tầng (nội bộ và bên ngoài): hệ thống điện, nước sạch, thông tin và viễn thông, xử lý rác thải, nước thải,

- Về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực, lao động, giáo dục - đào tạo đáp ứng yêu cầu.

- Hoạt động hỗ trợ, hạ tầng tiện ích, phụ trợ như: xây dựng, tài chính - bảo hiểm - tiền tệ - ngân hàng, giáo dục, y tế, dịch vụ lưu trú, giải trí,…

  1. Một số kiến nghịmột số giải pháp triển khai thực hiện

Trong thời gian tới, để có thể triển khai và thực hiện hiệu quả mô hình khu thương mại tự do tại Hải Phòng, cần tập trung một số giải sau:

Về vị trí, quy mô, thành phố cần xác định diện tích, địa điểm xây dựng mô hình khu thương mại tự do, đảm bảo phù hợp quy hoạch sử dụng tài nguyên, đất đai, bảo vệ môi trường và các quy hoạch phát triển, ưu tiên ở các khu vực ven biển, giao thông thuận lợi kết nối các loại hình giao thông đường biển, đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường hàng không. Hiện nay, thành phố cũng có rất nhiều lợi thế về trung tâm giao thông, kết nối, sự phát triển Khu kinh tế Đình Vũ – Cát Hải và các khu/ cụm công nghiệp trên địa bàn thành phố. Tuy nhiên, có thể xem xét việc thống nhất quy hoạch tập trung trong khu thương mại tự do tại thành phố. Đẩy nhanh tiến độ nghiên cứu, xin chủ trương về xây dựng thí điểm mô hình khu thương mại tự do tại Hải Phòng. Trong đó, cần chú trọng đánh giá thí điểm các mô hình khu thương mại tự do thế hệ mới theo hướng thu hút các nhà đầu tư giảu kinh nghiệm, các “đại bàng kinh tế” trong 3 lĩnh vực trọng tâm phát triển của thành phố công nghiệp công nghệ cao, cảng biển – logistic, du lịch – thương mại, nhất là các lĩnh vực công nghệ - tài chính (fintech), kinh tế số. Đồng thời, gạn lọc, hạn chế tối đa sự tham gia của các doanh nghiệp sử dụng nhiều tài nguyên thiên nhiên, dễ gây nguy cơ ô nhiễm, đánh giá nghiêm túc về vấn đề chi phí xã hội – môi trường đối với các nguy cơ ô nhiễm môi trường khu thương mại tự do.Trong xu thế cách mạng 4.0, các nước đang phát triển càng phải hướng về các khu thương mại tự do thế hệ mới thuộc về công nghệ cao, tài chính, du lịch, môi trường, tái tạo đô thị, vượt ra ngoài các hoạt động sản xuất chiếm nhiều đất đai, thâm dụng lao động trong các ngành sản xuất và thương mại của các khu thương mại tự do truyền thống. Cần phải nhấn mạnh thêm rằng, sự thành công của các khu thương mại/ kinh tế tự do của Trung Quốc trong lĩnh vực công nghệ cao là đặc biệtvượt trội so với các lĩnh vực đầu tư khác. Điều nàygóp phần đúc kết kinh nghiệm, định hướng cho sự thiết lập, phát triển các mô hình của các quốc gia đi sau.

Về quy hoạch và mục tiêu phát triển, thành phố cần đẩy nhanh tiến độ xây dựng quy hoạch tổng thế trên cơ sở nhận diện, định hướng xây dựng Hải Phòng đến năm 2030 và đến 2045. Lựa chọn mô hình phát triển phù hợp trên cơ sở đánh giá tổng quan, xem xét một số mô hình khu kinh tế/ thương mại tự do của Trung Quốc (Thượng Hải, Thâm Quyến, Chu Hải, Sán Đầu của Quảng Đông, Hạ Môn của Phúc Kiến), Hàn Quốc (Incheon, Jeju, Busan-Jinhae, Gwangyang, Daegu-Gyeongbuk), Nhật Bản (khu kinh tế tại Tokyo, Fukuoka, Osaka, Kanagawa), các cảng khẩu tự do mới của Anh thiết lập sau khi rời EU, Dubai (UAE), Singapore,…Bên cạnh đó, trong quá trình xây dựng quy hoạch cần mời các nhà thầu có uy tín trên thế giới để thiết lập các lộ trình và định hướng phát triển đầu tư, sinh lợi rõ ràng để các nhà đầu tư lớn thế giới tin tưởng, lựa chọn khu thương mại tự do của Hải Phòng là bến đỗ cho các dự án đầu tư của họ.

Ảnh: Hải Phòng là thành phố hội tụ đủ các điều kiện để thành lập khu thương mại tự do thế hệ mới để vươn lên trở thành một đầu tàu kinh tế của cả nước, thành phố hàng đầu khu vực và châu Á trong tương lai, nguồn: https://cafef.vn/muon-co-khu-thuong-mai-tu-do-hai-phong-can-gi-20211012090555403.chn

Về thể chế chính sách, việc lựa chọn mô hình phát triển khu thương mại tự do và lựa chọn các chính sách ưu đãi về thuế quan cần đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng hệ thống chính sách kinh tế - thuế quan cạnh tranh, phải có ưu thế riêng biệt, độc quyền, nổi bật so với các địa phương, thành phố khác trong khu vực Đông Nam Á. Đồng thời, các chính sách này cũng cần đánh giá dựa trên mô hình mậu dịch quốc tế, bao gồm tạo công ăn việc làm, thu hút FDI, thu hút ngoại tệ và tạo ra giá trị kinh tế gia tăng, coi đây là một xúc tác dẫn tới tăng trưởng chung cho tổng thể nền kinh tế. Tuy nhiên, cũng cần đánh giá các yếu tố thời gian sinh lợi sau triển khai, ngăn chặn tình trạng “đầu tư lướt sóng” của nhà đầu tư nước ngoài để hưởng ưu đãi hấp dẫn, tận dụng kẽ hở các ưu đãi tài khóa – thuế quan, đánh giá tác động và thúc đẩy hợp tác cộng sinh giữa các nhà đầu tư nước ngoài với các nhà cung cấp, doanh nghiệp trong nước. Bên cạnh đó, đối với các chính sách về đất đai, cổ phần cần thuận lợi cho nhà đầu tư đồng thờitránh tình trạng đầu cơ, đảm bảo an ninh - ổn định chính trị - kinh tế, trật tự an toàn xã hội. Đồng thời, có quy định phù hợp về tỷ lệ sản phẩm tiêu thụ tại chỗ và xuất khẩu đối với hàng hoá của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và về vấn đề nội địa hoá các sản phẩm của doanh nghiệp. Xây dựng hệ thống nghiệp vụ bảo hộ thuế linh hoạt của khu thương mại tự do.

Về mô hình tổ chức bộ máy quản lý, hoạt động tổ chức bộ máy quản lý cần tinh gọn, học tập các mô hình quản lý thế hệ thứ 4 hay khu kinh tế tự do kinh thuật số trong các mô hình phát triển khu kinh tế/ thương mại tự do, đảm bảo tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, không ảnh hưởng đến hệ thống chế định pháp luật hiện hành. Sử dụng các giải pháp quản lý, kiểm soát tối đa bằng hạ tầng viễn thông - công nghệ thông tin, tránh sử dụng số lượng lớn nhân lực quản lý trực tiếp. Tối ưu hóa các quy trình thủ tục hành chính, thủ tục xuất nhập cảnh, lưu chuyển hàng hóa – dịch vụ, thanh toán – lưu thông tiền tệ trong khu thương mại tự do trên cơ sở các mô hình quản lý hiện đại.

Về cơ sở hạ tầng, cần đảm bảo lộ trình nguồn vốn đầu tư dài hạn phù hợp, hợp tác công tư, xây dựng kế hoạch nguồn thu và vay vốn đầu tư để đảm bảo xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng khu thương mại tự do đồng bộ, thống nhất, hiệu quả. Tránh việc đầu tư dàn trải, tràn lan và không có kế hoạch phù hợp để duy trì nguồn vốn hoàn thành đầy đủ cơ sở hạ tầng kinh tế - kỹ thuật khu thương mại tự do đã cam kết, chậm giải phóng mặt bằng, thiếu cơ sở hạ tầng bổ sung (điện, đường, cầu, cảng),… dẫn đến trường hợp thất bại của một số đặc khu kinh tế của Ấn Độ hay khu vực Châu Phi. Bên cạnh đó, đẩy mạnh triển khai các dự án hạ tầng kỹ thuật – giao thông – đô thị của thành phố, chú trọng liên kết vùng và các liên kết hành lang kinh tế với các địa phương khu vực các tỉnh Tây Nam Trung Quốc.

Về nguồn nhân lực, giáo dục - đào tạo, cần đặc biệt quan tâm xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao để đáp ứng yêu cầu của các doanh nghiệp hoạt động trong khu thương mại tự do. Xây dựng cơ chế, lộ trình tối ưu hóa tuyển chọn tài năng quốc tế từ kinh nghiệm thành công của các nước cho các chiến lược phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của thành phố. Chú trọng thu hút các tập đoàn giáo dục hàng đầu thế giới xây dựng các trường đại học, viện nghiên cứuhình thành hệ sinh thái kinh tế hiện thực hóa các ý tưởng công nghệ - đầu tư trong khu thương mại tự do có ranh giới đóng vai trò như các thung lũng Silicon trên thế giới. Tăng cường thiết lập các vườn ươm công nghệ nhằm thu hút start-up, unicorn công nghệ - tài chính, hướng tới xây dựng Hải Phòng thành trung tâm công nghệ - tài chính đổi mới - sáng tạo - phát minh. Triển khai xây dựng mô hình thành phố sử dụng tiếng Anh, trung tâm hội nghị - hội thảo quốc tế,… để tạo môi trường thuận lợi tiếp cận các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư, phát triển tại khu thương mại tự do.

Đối với hoạt động xây dựng hạ tầng tiện ích, hỗ trợ, phụ trợ, thành phố cần tăng cường kết hợp thu hút nguồn vốn đầu tư từ các nhà đầu tư trong nước và các tập đoàn nước ngoài trong xây dựng các trung tâm tài chính - bảo hiểm - tiền tệ - ngân hàng, y tế, dịch vụ lưu trú, giải trí,… phục vụ hoạt động của các doanh nghiệp, nhà đầu tư trong khu thương mại và các khu/cụm kinh tế trong tương lai.

Nhìn chung, việc xây dựng mô hình khu thương mại tự do tại Hải Phòng còn cần nhiều nghiên cứu chuyên sâu để triển khai, xây dựng. Tuy nhiên, có thể khẳng định việc phát triển khu thương mại tự do tại Hải Phòng là yêu cầu cần thiết để thành phố bứt phá, vươn lên xứng tầm thành phố hàng đầu khu vực Đông Nam Á và Châu Á. Việc lựa chọn các mô hình khu thương mại tự do thế hệ mới kinh tế - tài chính kỹ thuật số là bước đi tắt đón đầu phù hợp với xu thế thời đại cách mạng công nghiệp 4.0 và chuyển đổi số, là mục tiêu đáng theo đuổi và là hướng đi phù hợp trong môi trường cạnh tranh quốc tế thay đổi nhanh và ngày càng quyết liệt.

MAI QUANG THỌ