Theo Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP), nền kinh tế xanh là nền kinh tế sản sinh ra ít khí thải các-bon, sử dụng hiệu quả và tối ưu các nguồn tài nguyên và năng lượng, hướng tới xã hội bình đẳng[1]. Trong nền kinh tế xanh, công ăn việc làm và thu nhập của người dân được phát huy nhờ vào các hoạt động kinh tế và đầu tư trong lĩnh vực công và lĩnh vực tư nhân, môi trường sống được bảo vệ, đa dạng sinh học và môi trường sinh thái được đảm bảo. Nói cách khác, một nền kinh tế xã là nền kinh tế mang lại những kết quả trong việc cải thiện chất lượng cuộc sống của con người và sự bình đẳng xã hội, đồng thời giảm thiểu đáng kể các rủi ro về môi trường và những hi sinh về hệ sinh thái[2] để phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của con người.

Xây dựng một nền kinh tế xanh và toàn diện. Ảnh: https://www.unep.org/pt-br/node/6538
Hiện tại, có nhiều cách tiếp cận khác nhau để hiểu về nền kinh tế xanh. Theo Karl Burkart, một nền kinh tế xanh được đặt trên nền tảng của các khía cạnh: i) năng lượng tái tạo, ii) các toà nhà xanh, iii) giao thông bền vững; iv) quản lý nước, v) quản lý đất, vi) quản lý rác thải[3]. Theo Uỷ ban thương mại quốc tế (ICC), một nền kinh tế xanh đảm bảo sự tăng trưởng kinh tế đi liền với bảo vệ môi trường và tiến bộ xã hội[4]. Tại Hội nghị thượng đỉnh về phát triển bền vững do Liên hợp quốc chủ trì tổ chức tại Rio de Janiero (Brazil), kinh tế xanh được gắn với các hoạt động sản xuất xanh, sản phẩm xanh, tiêu dùng xanh, lối sống xanh….[5]
Trong nền kinh tế xanh, kinh tế có vai trò quan trọng trong giải quyết các thách thức toàn cầu, và vai trò của sự hợp tác hiệu quả, chặt chẽ giữa các ngành sản xuất – kinh doanh và quản lý công trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế xanh; ở đó những điều kiện khuyến khích nền kinh tế mở và cạnh tranh, đầu tư và tài chính, nhận thức của các bên và ở các cấp, sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên, lao động, giáo dục và kỹ năng, quản lý điều hành và quan hệ đối tác, chính sách hội nhập và ra quyết định được đảm bảo để triển khai.
Kinh tế xanh được xây dựng trên nền tảng của hệ thống cách tân về hoạt động kinh tế tăng trưởng và có trách nhiệm, tăng cường phúc lợi xã hội, bảo vệ, bảo tồn, nuôi dưỡng môi trường thiên nhiên. Nhiều quốc gia trên thế giới đã dần triển khai chuyển đổi nền kinh tế quốc gia sang nền kinh tế xanh, thông qua nhiều cách thức khác nhau. Ví dụ, thành phố Curitiba (tại bang Parana của Brazil) đã triển khai các hệ thống đổi mới phục vụ xây dựng kế hoạch đô thị bền vững, giải quyết các thách thức về ô nhiễm do sự gia tăng dân số gây ra trong nhiều thập niên qua. Với diện tích khoảng trên 430 km2 với khoảng trên 3 triệu dân và dân số đô thị được dự báo còn tiếp tục gia tăng, Curitia là một trong những thành phố đông dân nhất ở Brazil. Để giải quyết thách thức giao thông đô thị tại thành phố, mô hình hệ thống xe buýt nhanh (BRT) đã được Curitiba áp dụng và được xem là mô hình thành công không chỉ ở Brazil, các nước Mỹ La tinh, mà còn được rất nhiều quốc gia trên thế giới học tập vận dụng mô hình nêu trên. Với 06 vành đai, 359 trạm xe buýt (bao gồm 30 trạm ga cuối), giá vé cố định áp dụng cho toàn bộ mạng lưới vận chuyển xe buýt, Curitiba đã thành công trong việc khuyến khích người dân sử dụng BRT. Thực tế tại Curitiba, 75% dân cư di chuyển hàng ngày bằng BRT[6], các trạm xe buýt chờ tiện lợi cho người sử dụng, chất lượng không khí được cải thiện đáng kể (khi đa số người dân lựa chọn phương tiện công cộng để đi lại)…

Một trạm dừng xe buýt tại Curitiba. Nguồn: https://development.asia/case-study/what-worlds-first-bus-rapid-transit-system-can-teach-us
Ở châu Âu, một số quốc gia áp dụng thuế các-bon để nhằm thiểu khí thải nhà kính. Ví dụ, Phần Lan là quốc gia đầu tiên trên ở châu Âu và trên thế giới, đề xuất đánh thuế CO2 vào năm 1990. Sau Phần Lan, 18 quốc gia khác ở châu Âu triển khai đánh thuế CO2, như là: 01 tấn CO2 thải ra môi trường phải trả thuế 0.07euro (Ba Lan), 45 euro (Pháp), 62 euro (Phần Lan), 116.33 euro (Thuỵ Điển). Hiện tại, tất cả các quốc gia trong Liên minh châu Âu (cộng với Na Uy, Liechtenstein, Iceland) là một phần của hệ thống giao dịch khí thải của EU, ngoại trừ Thuỵ Sĩ (có hệ thống giao dịch khí thải nhà kính riêng từ năm 2020) và Anh quốc (đã tách ra khỏi EU, và cũng đã triển khai hệ thống giao dịch khí thải riêng từ năm 2021)[7]. Chính phủ các nước châu Âu cũng đang xem xét chấm dứt trợ cấp nhiên liệu hoá thạch ở châu Âu theo bản sửa đổi của Chỉ thị đánh thuế năng lượng (ETD) như là một phần của việc điều chỉnh thuế gắn với các mục tiêu môi trường của Liên minh châu Âu[8]. Đóng góp vào các biện pháp giảm thiểu phát thải nhà kính, các nước gồm Hà Lan, Đức, Bỉ, Thuỵ Điển, Luxembourg, Đan Mạch, Italia, Bulgaria đã ký một tuyên bố chung ngày 07/11/2019 đề nghị Liên minh châu Âu chấm dứt miễn nhiều loại thuế đối với ngành hàng không. Năm 2018, Thuỵ Điển đã công bố thuế hàng không; Đức cũng đã áp thuế hàng không để bảo vệ môi trường[9]. Bên cạnh đó, chính phủ các nước EU xem xét việc giảm thuế cho các hộ gia đình có thu nhập thấp, cắt giảm các khoản đóng góp an ninh xã hội đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, tăng thuế đối với lợi nhuận công ty và người giàu[10].


Thuế CO2 tại châu Âu (tính theo mỗi tấn CO2 thải ra môi trường) ngày 01/4/2021. Nguồn dẫn: https://taxfoundation.org/carbon-taxes-in-europe-2021/
Vận hành nền kinh tế xanh không chỉ dừng lại ở việc áp dụng các biện pháp mạnh trong đánh thuế đối với các lĩnh vực sử dụng năng lượng hoá thạch, vận hành giao thông thông minh, mà còn thể hiện qua việc xử lý các vấn đề liên quan đến rác thải, nước thải đô thị. Ví dụ, Thuỵ Điển đi đầu trong xử lý rác thải chôn lấp và tái chế, các nước Đan Mạch, Phần Lan, Hà Lan, Singapore rất phát triển trong lĩnh vực xử lý nước thải[11].
Nền kinh tế xanh là động lực cho các quốc gia hướng tới thực hiện mục tiêu tăng trưởng bền vững quốc gia. Vai trò của chính phủ trong việc xây dựng và ban hành các chính sách tạo thuận lợi cho việc phát triển nền kinh tế mở và cạnh tranh, khai thác và sử dụng hiệu quả các nguồn năng lượng, trong đó vai trò của các nguồn năng lượng tái tạo và ứng dụng công nghệ khoa học trong sản xuất, kinh doanh, và đời sống hàng ngày của con người, tăng cường nhận thức và thái độ trách nhiệm của cộng đồng đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng…
Trong xu hướng chung về xây dựng kinh tế xanh, bảo vệ môi trường sống, hướng tới phát triển bền vững, cụm từ “kinh tế xanh” dần hiện diện nhiều ở Việt Nam. Là một quốc gia ven biển chịu nhiều ảnh hưởng từ biến đổi khí hậu, việc ứng phó với bién đổi khí hậu kịp thời là một trong những yêu cầu quan trọng đối với sự phát triển bền vững của Việt Nam. Thêm nữa, là một quốc gia đang phát triển, việc giảm thải khí thải nhà kính là một trong những nhiệm vụ không hề dễ dàng bởi nhiều lĩnh vực kinh tế, hoạt động sản xuất kinh doanh, hạ tầng kinh tế - xã hội, và cả đời sống sinh hoạt hàng ngày của người dân gắn với sử dụng năng lượng truyền thống (xăng, gas, than đá…). Việc hài hoà các mục tiêu phát triển quố gia với các nỗ lực của quốc gia trong việc đóng góp vào giảm thiểu khí CO2 là cần thiết và có lợi ích lâu dài đối với nền kinh tế quốc gia. Nhận thức được những vấn đề nêu trên, trong những năm vừa qua, Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách phục vụ phát triển kinh tế xanh. Chủ trương “phát triển nhanh và bền vững… phát triển hài hoà giữa chiều rộng và chiều sâu, chú trọng phát triển chiều sâu; phát triển tri thức, kinh tế xanh” đã được đề cập trong Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng. Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (được ban hành kèm theo Quyết định số 153/2004/QĐ-TTg) xác định một trong những hoạt động ưu tiên trong lĩnh vực kinh tế là xây dựng nền công nghiệp xanh. Đến năm 2012, Chiến lược phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011-2020 (ban hành kèm theo Quyết định số 432/QĐ-TTg) chỉ rõ phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt trong quá trình phát triển của đất nước, và việc xây dựng, thực hiện chiến lược tăng trưởng xanh đảm bảo phát triển kinh tế theo hướng ít phát thải nhà kính. Mục tiêu tái cấu trúc, hoàn thiện thể chế kinh tế theo hướng xanh hoá các ngành hiện có, khuyến khích phát triển các ngành kinh tế sử dụng hiệu quả năng lượng và tài nguyên với giá trị gia tăng cao được đặt ra. Song song là các mục tiêu về tăng tỉ lệ rừng ngập mặn ven biển, rừng phòng hộ đầu nguồn, xây dựng các kế hoạch hành động tăng trưởng xanh cấp ngành, vùng, địa phương được triển khai.

Hội thảo tăng cường kế hoạch thúc đẩy tăng trưởng xanh thành phố Hải Phòng, khu công nghiệp sinh thái diễn ra tại Hải Phòng, ngày 11/12/2019. Nguồn ảnh: https://haiphong.gov.vn/tin-tuc-su-kien/Hoi-thao-tang-cuong-Ke-hoach-thuc-day-tang-truong-xanh-thanh-pho-Hai-Phong-va-KCN-sinh-thai-39308.html
Tại Hải Phòng, thực hiện chủ trương chính sách chung của Nhà nước, thành phố đã xây dựng và ban hành các kế hoạch phục vụ phát triển công nghiệp, thực hiện mục tiêu tăng trưởng xanh, giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu đến sự phát triển kinh tế - xã hội về kế sinh nhai của người dân… Ngày 03/7/2014, Uỷ ban nhân dân thành phố Hải Phòng đã ban hành Quyết định số 1463/QĐ-UBND về việc ban hành kế hoạch hành động thực hiện chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2014-2020, và một trong những nhiệm vụ đặt ra trong Quyết định là nghiên cứu xây dựng các mô hình xanh như thành phố Cảng xanh, đô thị xanh, công nghiệp xanh, nông nghiệp xanh, môi trường xanh… Bên cạnh các giải pháp về đổi mới công nghệ, nghiên cứu, xây dựng và hoàn thiện chính sách hỗ trợ thực hiện kế hoạch, đổi mới công tác quy hoạch đô thị, sử dụng đất, rà soát điều chỉnh quy hoạch các ngành sản xuất…, giải pháp đẩy mạnh hợp tác quốc tế, tranh thủ sự giúp đỡ, ủng hộ của các đối tác nước ngoài, các tổ chức quốc tế trong và ngoài nước trong thực hiện chiến lược tăng trưởng xanh được đẩy mạnh triển khai trong những năm vừa qua. Các dự án thí điểm hợp tác với các đối tác và tổ chức nước ngoài đã và đang được triển khai trên địa bàn thành phố, như xây dựng thí điểm mô hình khu công nghiệp sinh thái, nghiên cứu sản xuất phân compost từ rác thải sinh hoạt, nâng cao nhận thức cộng đồng dân cư vùng ven biển về biến đổi khí hậu và nâng cao năng lực ứng phó biến đổi khí hậu … Bên cạnh, những dự án thí điểm quy mô nhỏ về sản xuất, vận hành năng lượng tái tạo (điện mặt trời…) được nghiên cứu, triển khai trên địa bàn thành phố với hi vọng sẽ mở ra những hướng đi mới trong khai thác và sử dụng năng lượng hiệu quả, đóng góp xây dựng kinh tế thân thiện với môi trường, phục vụ phát triển bền vững./.
[1] https://www.unep.org/regions/asia-and-pacific/regional-initiatives/supporting-resource-efficiency/green-economy
[2] UNEP, 2011, “Hướng tới một nền kinh tế xanh: Các con đường dẫn đến xoá bỏ sự nghèo và phát triển bền vững”, truy cập http://www.unep.org/greeneconomy ngày 02/9/2021.
[3] https://www.sociologygroup.com/green-economy/
[4] https://iccwbo.org/content/uploads/sites/3/2012/08/Green-Economy-Roadmap-a-guide-for-business_-policy-makers-and-society.pdf
[5] https://www.unep.org/resources/report/rio20-outcome-document-future-we-want
[6] https://development.asia/case-study/what-worlds-first-bus-rapid-transit-system-can-teach-us
[7] https://taxfoundation.org/carbon-taxes-in-europe-2021/
[8] https://ieep.eu/news/green-economy/fair-and-green-a-new-european-grand-bargain-on-tax-is-possible
[9] https://nhandan.vn/tin-tuc-the-gioi/chin-nuoc-eu-keu-goi-ap-thue-hang-khong-nham-giam-phat-thai-376310/
[10] https://ieep.eu/news/green-economy/fair-and-green-a-new-european-grand-bargain-on-tax-is-possible
[11] https://citygreen.com/the-top-10-greenest-countries-in-the-world/