Nhằm hiện thực hóa mục tiêu hiện đại hóa hệ thống giao thông vận tải, thành phố Hải Phòng đang tích cực triển khai các nhiệm vụ trọng tâm thuộc Đề án “Đào tạo, phát triển nguồn nhân lực đường sắt Việt Nam đến năm 2035, định hướng đến năm 2045” vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 2230/QĐ-TTg.

Việc thực hiện Đề án là một nhiệm vụ cấp thiết và mang tính chiến lược vì những lý do trọng tâm sau: (1) Bộ Xây dựng xác định đào tạo và phát triển nguồn nhân lực là nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa quyết định đối với việc làm chủ công nghệ và đảm bảo sự phát triển bền vững của ngành đường sắt Việt Nam. Đây là bước chuẩn bị quan trọng để hiện thực hóa các chủ trương, chỉ đạo của Đảng, Quốc hội và Chính phủ về phát triển hạ tầng giao thông; (2) Việc triển khai Đề án nhằm đào tạo kịp thời nguồn nhân lực phục vụ cho công tác xây dựng, quản lý, vận hành và khai thác các tuyến đường sắt quan trọng, đặc biệt là tuyến Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng và dự án đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc – Nam; (3) Đề án hướng tới việc đào tạo nhân lực có đủ năng lực để tiếp nhận chuyển giao công nghệ, từ đó từng bước làm chủ từng phần công nghệ và công nghiệp đường sắt tiên tiến. Điều này bao gồm cả việc bổ sung đội ngũ giảng dạy chất lượng cao cho các cơ sở đào tạo để duy trì sự phát triển nhân lực trong dài hạn; (4) Riêng đối với thành phố Hải Phòng, việc thực hiện đề án là cần thiết để chuẩn bị sẵn sàng nguồn nhân lực khi thành phố triển khai hệ thống đường sắt đô thị. Thành phố cần các trung tâm đào tạo thực hành hoặc sự hợp tác giữa doanh nghiệp vận hành và các cơ sở giáo dục để đáp ứng nhu cầu nhân lực tại chỗ; (5) Việc thực hiện đề án theo tinh thần “06 rõ” (rõ người, việc, thẩm quyền, trách nhiệm, thời gian, kết quả) giúp đảm bảo tiến độ, chất lượng và sự thống nhất trong quản lý nhà nước cũng như quản lý dự án đường sắt từ Trung ương đến địa phương.
Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Thành Long, công tác đào tạo nhân lực đường sắt phải được triển khai chủ động, tích cực và bảo đảm chất lượng, tiến độ. Bộ Xây dựng đã thành lập các Ban Chỉ đạo chuyên trách, trong đó có Ban Chỉ đạo triển khai Dự án đầu tư xây dựng các tuyến đường sắt kết nối Trung Quốc, trọng tâm là tuyến Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng. Lộ trình đào tạo được chia làm các giai đoạn cụ thể:
- Giai đoạn 2025 – 2030: Đào tạo ít nhất 000 nhân lực, tập trung vào nhân lực chất lượng cao phục vụ các dự án đường sắt tốc độ cao, đường sắt đô thị và bổ sung đội ngũ giảng dạy.
- Giai đoạn 2031 – 2035: Đào tạo ít nhất 000 nhân lực, tăng cường nhân lực tiếp nhận chuyển giao và từng bước làm chủ công nghệ.
Công tác hợp tác quốc tế đóng vai trò then chốt trong Đề án đào tạo và phát triển nguồn nhân lực đường sắt, nhằm giúp Việt Nam nhanh chóng tiếp cận, chuyển giao và làm chủ các công nghệ tiên tiến, đặc biệt là đường sắt tốc độ cao và đường sắt đô thị. Việt Nam đã mở rộng và tăng cường mối quan hệ hợp tác với các quốc gia có hệ thống đường sắt phát triển hàng đầu thế giới, bao gồm:
- Trung Quốc: Hợp tác sâu rộng với các viện, học viện và trường đại học lớn như Đại học Giao thông Tây Nam, Đại học Bắc Kinh, Học viện Đường sắt Liễu Châu, và Học viện Đường sắt Côn Minh.
- Hàn Quốc: Liên kết với Tổng công ty Đường sắt Hàn Quốc (Korail), tổ chức KOICA, Đại học Dongyang, và Đại học Giao thông quốc gia Hàn Quốc (KNUT).
- Nhật Bản, Châu Âu (Pháp) và các quốc gia khác: Hợp tác với Viện Giao thông và Du lịch Nhật Bản (JTTRI), Cơ quan phát triển Pháp (AFD), Viện Công nghệ Singapore (SIT) và Liên minh Đường sắt Quốc tế (UIC).
Các cơ sở giáo dục đại học và doanh nghiệp chủ chốt (như Tổng công ty Đường sắt Việt Nam - VNR) đã triển khai nhiều hoạt động thực chất:
- Liên kết đào tạo trình độ cao: VNR đang phối hợp với các trường đại học uy tín tại Trung Quốc và Hàn Quốc để đào tạo Kỹ sư, Thạc sĩ, Tiến sĩ các chuyên ngành đường sắt mới và đường sắt tốc độ cao.
- Thực tập và "Học kỳ doanh nghiệp" tại nước ngoài: Một số trường đã tổ chức cho hàng trăm sinh viên sang thực tập trực tiếp tại các doanh nghiệp đường sắt ở nước ngoài (như Trung Quốc) để tiếp cận môi trường làm việc thực tế.
- Chuyển giao mô hình và trang thiết bị: Tiếp nhận các mô hình đào tạo thực hành tiên tiến, đầu tư hệ thống phòng thí nghiệm và phòng mô phỏng điều khiển, khai thác đường sắt tốc độ cao từ các đối tác nước ngoài.
- Xây dựng kế hoạch tổng thể: VNR đã phối hợp với Korail (Hàn Quốc) để xây dựng Kế hoạch tổng thể đào tạo nguồn nhân lực đường sắt tốc độ cao cho Việt Nam.
Cục Đường sắt Việt Nam đã phối hợp với Cơ quan phát triển Pháp (AFD) và Tổng Công ty quốc tế Đường sắt quốc gia Pháp (SNCFI) thực hiện dự án chuyên biệt nhằm tăng cường năng lực cho đội ngũ cán bộ quản lý thuộc Bộ Xây dựng trong lĩnh vực đường sắt.
Việc chủ động thiết lập các mối quan hệ đối ngoại này giúp hình thành một hệ sinh thái đào tạo đồng bộ, từ lý thuyết đến thực hành, chuẩn bị sẵn sàng đội ngũ nhân lực chất lượng cao phục vụ các dự án trọng điểm như tuyến đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng và trục đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam. Tại Hải Phòng, Ủy ban nhân dân thành phố đã giao nhiệm vụ cụ thể cho các sở, ngành để chuẩn bị sẵn sàng nguồn lực:
- Sở Xây dựng: Là cơ quan chủ trì, phối hợp với các đơn vị thuộc Bộ Xây dựng để tham mưu kế hoạch triển khai hàng năm và từng giai đoạn; đồng thời rà soát, tổng hợp nhu cầu nhân lực đường sắt trên địa bàn.
- Sở Giáo dục và Đào tạo: Chỉ đạo, hướng dẫn các cơ sở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp tổ chức triển khai nhiệm vụ đào tạo và bồi dưỡng theo nhu cầu thực tế đã được tổng hợp.
- Các cơ sở đào tạo: Chủ động mở các chuyên ngành mới về đường sắt tốc độ cao, đường sắt đô thị và tăng cường hợp tác quốc tế (với các đối tác Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc...) để chuẩn hóa năng lực đào tạo.
Bên cạnh đó, các doanh nghiệp như Tổng công ty Đường sắt Việt Nam cũng tham gia sâu vào công tác đào tạo theo đơn đặt hàng, ưu tiên hoàn thiện kế hoạch nhân sự cho tuyến đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng. Sự phối hợp đồng bộ này không chỉ giúp Hải Phòng làm chủ công nghệ vận hành đường sắt đô thị trong tương lai mà còn đóng góp vào sự phát triển bền vững của ngành đường sắt quốc gia.