- Đánh giá từ các Hiệp hội, Tổ chức quốc tế
Trong nước, theo số liệu của Tổng cục Thống kê cho biết: Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước tháng Hai ước đạt gần 30 nghìn tỷ đồng, tăng 36,9% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung hai tháng đầu năm 2023, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước ước đạt 56,9 nghìn tỷ đồng, bằng 8,3% kế hoạch năm và tăng 18,3% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2022 bằng 8% và tăng 14,6%). Tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam tính đến ngày 20/02/2023 bao gồm: Vốn đăng ký cấp mới, vốn đăng ký điều chỉnh và giá trị góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đạt 3,1 tỷ USD, giảm 38% so với cùng kỳ năm trước. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện tại Việt Nam hai tháng đầu năm 2023 ước tính đạt 2,55 tỷ USD, giảm 4,9% so với cùng kỳ năm trước.
Về tổng quan, các tổ chức quốc tế tiếp tục đánh giá tích cực về triển vọng kinh tế Việt Nam. Văn phòng Nghiên cứu Kinh tế Vĩ mô ASEAN+3 (AMRO) tháng 02/2023 điều chỉnh dự báo tăng trưởng GDP của Việt Nam năm 2023 lên 6,8%, trong khi hạ dự báo đối với hầu hết các nền kinh tế trong ASEAN+3. Ngân hàng Standard Chartered đánh giá lạc quan về triển vọng kinh tế Việt Nam, dự báo tốc độ tăng trưởng nửa đầu năm 2023 khoảng 4% song sẽ tăng lên 9 – 9,5% nửa cuối năm và cả năm đạt 7,2%; trong đó ngành du lịch được kỳ vọng sẽ là động lực hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Bên cạnh đó, Standard Chartered đánh giá Việt Nam sẽ gặp một số thách thức trong ngắn hạn từ việc xuất khẩu sụt giảm, lạm phát lõi có xu hướng tăng (dự báo lên mức 5%).
Bên cạnh những đánh giá tích cực về triển vọng kinh tế, gần đây một số hiệp hội và doanh nghiệp nước ngoài cũng bày tỏ quan tâm đến môi trường đầu tư, kinh doanh tại Việt Nam. Hiệp hội Thương mại Hoa Kỳ - AmCham, Tổ chức Xúc tiến Mậu dịch Nhật Bản - JETRO đánh giá hệ thống quản lý kinh tế còn một số hạn chế như: hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện, thủ tục hành chính, xử lý của khu vực công chưa thuận lợi; tỷ lệ nghỉ việc và chi phí nhân công có xu hướng tăng…, là các yếu tố ảnh hưởng nhiều đến sức hấp dẫn của môi trường đầu tư, kinh doanh của Việt Nam. Để cải thiện môi trường thương mại và đầu tư của Việt Nam, EuroCham đưa ra một số khuyến nghị: (i) Tăng cường khung pháp lý xanh để đảm bảo nền kinh tế xanh của Việt Nam sẽ là xương sống trong khả năng cạnh tranh quốc tế, qua đó thu hút FDI bền vững; (ii) Đơn giản hóa quy trình cấp giấy phép lao động với chuyên gia nước ngoài để xúc tiến thu hút nhân tài, chuyển giao tri thức; (iii) Thúc đẩy lồng ghép trách nhiệm xã hội trong lĩnh vực môi trường, lao động vào các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
- Thách thức và cơ hội
Kinh tế thế giới (KTTG) năm 2023 được dự báo có những bước ngoặt quan trọng với mức tăng trưởng thấp và đối mặt rất nhiều khó khăn trong nửa đầu năm, song nhiều khả năng sẽ phục hồi tích cực hơn vào nửa cuối năm. Trước những diễn biến phức tạp của kinh tế thế giới, bao gồm khả năng các nền kinh tế lớn tiếp tục tăng lãi suất đến giữa năm (dù tốc độ chậm hơn) làm gia tăng áp lực ngắn hạn đối với Việt Nam trong điều hành chính sách tiền tệ, lãi suất, tỷ giá, ta cần tiếp tục kiên định mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt, hợp lý, bám sát diễn biến thị trường quốc tế, phối hợp đồng bộ với chính sách tài khoá, bảo đảm cân bằng giữa mục tiêu tăng trưởng và kiềm chế lạm phát.
Một số lĩnh vực kinh tế dự báo sẽ chịu tác động lớn từ các biến động KTTG, trong đó suy giảm thương mại toàn cầu tác động đến xuất khẩu của Việt Nam nhanh hơn dự kiến (kim ngạch xuất khẩu 02 tháng đầu năm giảm 10,4% so với cùng kỳ). Với điểm rơi của suy giảm KTTG được dự báo vào quý II/2023, xu hướng này sẽ tiếp tục tác động tiêu cực tới xuất khẩu của Việt Nam trong một vài tháng tiếp theo. Tuy nhiên, từ nửa cuối năm 2023 với việc các nền kinh tế lớn có triển vọng “hạ cánh mềm”, nhu cầu tiêu dùng dự báo sẽ từng bước phục hồi, tạo cơ hội cho hàng hóa Việt Nam.
Xu hướng các nước phát triển đẩy mạnh áp dụng các tiêu chí bền vững trong các chính sách kinh tế - thương mại ngày càng rõ nét với một số chính sách sẽ có hiệu lực trong năm 2023 (như cơ chế điều chỉnh các-bon qua biên giới - CBAM của EU). Xu hướng này tạo ra cơ hội để Việt Nam, tăng cường hợp tác với các nước phát triển trong các lĩnh vực như chuyển đổi số, kinh tế tuần hoàn, giảm phát thải... cũng như thúc đẩy hợp tác trong một số cơ chế có nội hàm phát triển bền vững như ASEAN, Mê Công, các FTA “thế hệ mới”. Mặt khác, một số ngành, lĩnh vực xuất khẩu sẽ phải chủ động nắm bắt, thích nghi với các quy định mới của các nước đối tác nhằm duy trì, củng cố thị phần trước xu hướng “xanh hóa” sản xuất tại nhiều nền kinh tế đang nổi trong khu vực (Thái Lan, Malaysia, Indonesia đẩy mạnh các ngành kinh tế xanh; Băng-la-đét tăng cường xanh hóa ngành sản xuất dệt may để thúc đẩy xuất khẩu vào Mỹ, EU).
- Chuyển hóa thách thức thành cơ hội và hành động
Những thách thức và cơ hội luôn song hành với nhau trên mọi bình diện, nhìn từ góc độ ngoại giao, Việt Nam cần:
- Tiếp tục đẩy mạnh xuất khẩu, tăng cường xúc tiến thương mại có trọng tâm, trọng điểm, chú trọng các thị trường lớn, mở rộng các thị trường còn nhiều dư địa; đa dạng hoá thị trường xuất khẩu, nhất là những thị trường ngách (các nước Trung Đông, Nam Mỹ, ASEAN…); thúc đẩy ký kết các FTA, các khuôn khổ hợp tác về kinh tế số, thương mại điện tử với các đối tác có tiềm năng; thúc đẩy và tăng cường hỗ trợ các địa phương, doanh nghiệp tham gia các hoạt động xúc tiến thương mại, đầu tư quốc tế.

Hội nghị xúc tiến thương mại và đầu tư giữa Đan Mạch và thành phố Hải Phòng trong lĩnh vực điện gió ngoài khơi
- Chủ động nắm bắt các điều chỉnh chính sách thương mại của các đối tác, nhất là các thị trường xuất khẩu lớn của Việt Nam để kịp thời thông tin, tuyên truyền cho các địa phương, doanh nghiệp xuất khẩu. Tăng cường các hoạt động trao đổi, vận động các đối tác tạo thuận lợi cho hàng xuất khẩu của Việt Nam trong khuôn khổ hoạt động đối ngoại cấp cao và các cấp. Tranh thủ cơ hội thúc đẩy một số mặt hàng xuất khẩu thế giới có nhu cầu như lương thực, thực phẩm.
- Đẩy mạnh tận dụng các cơ hội thúc đẩy hợp tác thương mại và du lịch với Trung Quốc: (i) Tăng cường trao đổi các cấp để tạo thuận lợi cho hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam, nhất là các mặt hàng nông, thủy sản. Đồng thời, các bộ, ngành, địa phương của ta cần tích cực, chủ động hơn nữa trong tuyên truyền về quy định, yêu cầu kiểm dịch hàng hóa nông thủy sản nhập khẩu của Trung Quốc; nâng cấp hạ tầng giao thông, đường sắt, cải thiện quy trình thông quan tại khu vực cửa khẩu hai nước. (ii) Tạo chuyển biến thực chất sang xuất khẩu chính ngạch, tăng cường xây dựng thương hiệu hàng hóa, tạo hiệu ứng lâu dài cho hàng hóa Việt Nam, nhất là các mặt hàng tiềm năng như sầu riêng, tổ yến… (iii) Nghiên cứu tạo thuận lợi cấp thị thực cho khách du lịch Trung Quốc phù hợp với các quy định của pháp luật và tích cực trao đổi với Trung Quốc sớm đưa Việt Nam vào danh sách các nước được tổ chức đoàn du lịch.

Thành phố Hải Phòng làm việc với đoàn đại biểu tỉnh Vân Nam, Trung Quốc
- Đẩy mạnh tuyên truyền, quảng bá với chính giới, cộng đồng doanh nghiệp nước ngoài về đường lối, chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam, những thành tựu về an sinh xã hội, ổn định kinh tế vĩ mô, chính trị - xã hội và các cam kết mạnh mẽ của Chính phủ Việt Nam về duy trì, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, thuận lợi của Việt Nam... để củng cố, khôi phục niềm tin của các nhà đầu tư nước ngoài. Các bộ, ngành, cơ quan và địa phương liên quan trong các vấn đề hợp tác, thu hút đầu tư nước ngoài, kịp thời tranh thủ các cơ hội xúc tiến đầu tư chất lượng cao vào Việt Nam và tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc cụ thể của nhà đầu tư.
- Trong bối cảnh cạnh tranh công nghệ ngày càng quyết liệt, nhiều nước tại khu vực đẩy mạnh việc thu hút các tập đoàn công nghệ, nhất là trong lĩnh vực bán dẫn. Cần sớm có kế hoạch căn cơ, bài bản nhằm thu hút dòng đầu tư đang dịch chuyển trong lĩnh vực này.