Đối ngoại trong kỷ nguyên mới: Nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên để kiến tạo năng lực phát triển quốc gia

Ngày 11-6-2026, tại Thủ đô Hà Nội, Bộ Chính trị và Ban Bí thư Trung ương Đảng đã trang trọng tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 19-5-2026 của Bộ Chính trị về triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIV của Đảng. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã dự và có bài phát biểu chỉ đạo mang tính chiến lược, định hướng tư tưởng và hành động cho toàn Đảng, toàn quân và toàn dân trong lĩnh vực đối ngoại nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị (Nguồn sưu tầm)

Đối ngoại là “vươn xa của đối nội” trong bối cảnh thế giới biến chuyển

Mở đầu bài phát biểu, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh Nghị quyết số 06-NQ/TW là sự cụ thể hóa những chủ trương lớn của Đại hội XIV, thể hiện tầm nhìn của Đảng về đối ngoại trong giai đoạn mới. Tiếp nối tinh thần của Nghị quyết số 59-NQ/TW năm 2025 về hội nhập quốc tế, nghị quyết mới đặt mục tiêu phát triển đối ngoại tương xứng với tầm vóc lịch sử, văn hóa của đất nước, hướng tới một Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc và vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Phân tích về bối cảnh quốc tế, Tổng Bí thư nhận định thế giới đang chứng kiến những chuyển biến mang tính bước ngoặt chưa từng có kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Trong một thế giới đầy biến động, những quốc gia không bắt kịp tình hình hoặc tự cô lập sẽ bị tụt hậu; ngược lại, những quốc gia chủ động chiến lược và hợp tác sẽ có cơ hội vươn lên. Việt Nam xác định sự phát triển của mình không thể tách rời sự phát triển của thế giới; do đó, việc kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại là điều kiện tiên quyết để “sánh vai với các cường quốc năm châu”.

Nhắc lại bài học lịch sử, Tổng Bí thư khẳng định đối nội và đối ngoại luôn song hành, bổ trợ cho nhau theo phương châm “hoà ở trong nước thì ít phải dùng binh, hoà ở ngoài biên thì không sợ báo động”. Đường lối đối ngoại đúng đắn của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giúp Việt Nam tranh thủ được sự giúp đỡ quốc tế to lớn để giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước. Trong kỷ nguyên mới, đối ngoại và hội nhập quốc tế phải đóng vai trò quan trọng trong việc triển khai mô hình phát triển lấy khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm trụ cột.

5 luận điểm định hình tư tưởng đối ngoại mới

Nghị quyết số 06-NQ/TW tập trung cụ thể hoá đường lối đối ngoại của Đại hội XIV thông qua 5 luận điểm lớn mang tính định hình:

  1. Nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên: Lần đầu tiên, đối ngoại được xác định ở vị trí “tuyến đầu và trung tâm” bên cạnh quốc phòng, an ninh. Đối ngoại có trách nhiệm nhận diện và hóa giải nguy cơ xung đột từ sớm, từ xa và từ nơi xuất phát.
  2. Thể hiện bản lĩnh và tầm vóc Việt Nam: Đối ngoại không chỉ bảo vệ lợi ích mà còn là phương thức lan tỏa giá trị văn minh Việt Nam, tạo dựng sự tôn trọng và tin cậy trong cộng đồng quốc tế.
  3. Tự chủ chiến lược và tự cường: Đây là năng lực làm chủ vận mệnh quốc gia, định vị đúng vị thế và phát huy nội lực dân tộc để làm cho quốc gia mạnh lên.
  4. Sứ mệnh vì lợi ích quốc gia và trách nhiệm toàn cầu: Lấy người dân làm trung tâm, đặt hòa bình và độc lập làm nền tảng, đồng thời coi việc đóng góp cho cộng đồng quốc tế là trách nhiệm của Việt Nam.
  5. Đối ngoại toàn diện, đồng bộ: Là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân trên nền tảng phối hợp 3 trụ cột (đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước, đối ngoại nhân dân) cùng sự gắn kết chặt chẽ với quốc phòng, an ninh và các ban, bộ, ngành, địa phương.

5 định hướng chiến lược trong triển khai thực hiện

Để ngoại giao Việt Nam chuyển sang trạng thái “kiến tạo năng lực phát triển quốc gia” và “góp phần định hình luật chơi”, Tổng Bí thư nhấn mạnh 5 định hướng lớn:

Thứ nhất, phát huy vai trò tiên phong ngăn ngừa khủng hoảng và củng cố vành đai an ninh - phát triển. Ưu tiên hàng đầu là quan hệ với các nước láng giềng thông qua kết nối chiến lược về hạ tầng, logistics, năng lượng... đồng thời xử lý hài hòa các vấn đề biên giới, an ninh nguồn nước. Với các nước lớn, cần chủ động định hình quan hệ cân bằng, hài hoà, không để rơi vào thế đối đầu hay lệ thuộc. Với ASEAN, cần nâng cao vai trò trung tâm và chủ động đề xuất các sáng kiến hợp tác.

Thứ hai, đối ngoại là động lực mở ra không gian và cơ hội phát triển mới. Đối ngoại phải chuyển trọng tâm từ “thu hút” sang “chọn lọc” nguồn lực đầu tư FDI công nghệ cao, khơi thông các nguồn tài chính mới như ODA xanh và tín dụng khí hậu. Đồng thời, cần đẩy mạnh “ngoại giao công nghệ”, kết nối với các trung tâm đổi mới sáng tạo thế giới và tham gia định hình luật chơi mới về trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu và tiêu chuẩn xanh.

Thứ ba, thể hiện trách nhiệm toàn cầu và chủ nghĩa đa phương. Việt Nam cần phát huy tiếng nói tích cực để khôi phục lòng tin vào chủ nghĩa đa phương, đóng góp vào bảo vệ trật tự thế giới dựa trên luật pháp quốc tế. Với thế và lực mới, Việt Nam có thể vươn lên đóng vai trò nòng cốt, dẫn dắt trong các cơ chế đa phương phù hợp, tham gia ứng phó các thách thức như biến đổi khí hậu và an ninh lương thực.

Thứ tư, nâng tầm vị thế quốc gia và phát huy sức mạnh mềm. Tiếp tục phát huy đường lối đối ngoại hòa bình, hữu nghị, biến văn hóa ngàn năm văn hiến thành sự ủng hộ của quốc tế. Cần khơi thông nguồn lực từ cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, biến ngoại giao văn hóa thành nguồn lực nội sinh cho phát triển.

Thứ ba, xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại, chuyên nghiệp. Nền ngoại giao này phải thể hiện bản sắc thời đại mới, vươn tầm quốc tế và có hệ thống lý luận vững chắc. Đặc biệt, phải xây dựng đội ngũ cán bộ đối ngoại “vừa hồng, vừa chuyên”, khơi dậy tinh thần “6 dám”: dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo và dám đương đầu với khó khăn.

Quyết tâm hành động để mang lại kết quả thực chất

Để Nghị quyết đi vào cuộc sống, Tổng Bí thư chỉ rõ 4 vấn đề lớn trong tổ chức thực hiện:

1. Xác định đối ngoại là sự nghiệp của toàn dân: Dưới sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng, tất cả các cấp từ trung ương đến địa phương phải vào cuộc. Từng bộ, ngành làm tốt công việc của mình chính là đóng góp cho công tác đối ngoại theo lời dạy của Bác: “thực lực như cái chiêng, ngoại giao như cái tiếng”.
2. Nhanh chóng cụ thể hóa thành hành động: Loại bỏ tư duy hình thức, phô trương; lấy kết quả cụ thể và tính thực chất làm thước đo hiệu quả. Cần có lộ trình phân công rõ ràng và thực hiện giám sát thường xuyên. 3. Đổi mới cơ chế phối hợp liên ngành: Kết hợp chặt chẽ giữa các trụ cột đối ngoại và các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, kinh tế, văn hóa. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số và hệ thống giám sát thời gian thực để đôn đốc việc thực hiện các cam kết quốc tế. 4. Kiện toàn bộ máy và cán bộ: Thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về đối ngoại và hội nhập quốc tế để xây dựng chiến lược đối ngoại toàn diện ở tầm cao mới. Khắc phục tình trạng trì trệ, yếu kém trong tổ chức thực hiện, lấy kết quả thực chất để đánh giá cán bộ.

Kết luận hội nghị, Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định: Khi đất nước đoàn kết, bản lĩnh và kết hợp được sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chúng ta sẽ vượt qua mọi khó khăn. Với quyết tâm chính trị cao và cách làm mới, Nghị quyết số 06-NQ/TW sẽ phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại, góp phần xây dựng một nước Việt Nam phát triển, độc lập, tự chủ và tự cường trong kỷ nguyên mới.

 

.