Cảng biển logistics Rotterdam

Được xem là cửa ngõ của châu Âu, Vương quốc Hà Lan sở hữu những trung tâm logistics hàng đầu thế giới, tạo thuận lợi cho việc giao thương và vận chuyển hàng hoá đến các thị trường trên thế giới. Bên cạnh sân bay Schiphol (kết nối với trên 300 điểm đến trên toàn cầu), hệ thống đường sắt cao tốc, đường thuỷ, đường bộ hiện đại kết nối với các nước trong khu vực châu Âu, Vương quốc Hà Lan còn nổi tiếng về hệ thống cảng dịch vụ chất lượng hàng đầu thế giới. Cảng Rotterdam của Vương quốc Hà Lan hiện tại được xem là cảng biển nước sâu lớn nhất ở châu Âu, là cảng lớn thứ sáu trên thế giới bởi lượng hàng hoá được trung chuyển hàng năm qua cảng.

Cảng Rotterdam (Vương quốc Hà Lan) từ trên cao. Nguồn ảnh: https://www.portofrotterdam.com/en/taxonomy/term/128?page=1

Một vài đặc điểm về cảng Rotterdam:

- Cảng Rotterdam đóng góp khoảng 7% vào tổng sản phẩm quốc nội của Vương quốc Hà Lan.

- Cảng Rotterdam là nhà của nhiều công ty lọc dầu, hoá chất, khí đốt.

- Cảng Rotterdam sở hữu dịch vụ logistics chất lượng với việc vận chuyển nhanh chóng, thuận lợi hàng hoá trên các tuyến nội thuỷ và hàng hải quốc tế.

- Cảng Rotterdam ứng dụng số hoá vào công tác quản lý vận hàng cảng, theo đuổi mục tiêu trung hoà khí thải các-bon trong các lĩnh vực xây dựng hạ tầng cảng và năng lượng.

Cảng Rotterdam được quản lý, điều hành bởi Chính quyền cảng Rotterdam, với trên 1.000 lao động và doanh thu trên 700 triệu euro (2019)[1].

Tổng lượng hàng hoá được xử lý tại cảng Rotterdam (Vương quốc Hà Lan) trong các năm 2013 – 2020: tổng lượng hàng hoá containers tăng từ trên 120 triệu tấn (2013) lên trên 150 triệu tấn (2020). Nguồn ảnh: https://www.statista.com/statistics/914372/volume-of-general-cargo-processed-by-port-of-rotterdam-by-type/

Với lợi thế về vị trí địa lý, hạ tầng hiện đại, bề dày lịch sử trong giao thương đi lại, cảng Rotterdam có thể tiếp nhận một cách thuận tiện các tàu hàng trọng tải lớn cập cảng và xuất cảng. Theo thống kê của Statista, trong giai đoạn 2013-2019, lượng hàng hoá được xử lý tại cảng Rotterdam tăng mạnh. Số lượng hàng containers và hàng rời được xử lý đạt cao điểm vào năm 2019, với khoảng 153 triệu tấn hàng containers và khoảng trên 30 triệu tấn hàng rời được xử lý tại cảng[2]. Năm 2020, doanh thu ròng của cảng Rotterdam đạt gần 715 triệu euro (Statista, 2020)[3].

https://youtu.be/0kN2jai6fhU

Với hạ tầng hàng hải tiên tiến và tự do hoá dịch vụ vận chuyển và dịch vụ hậu cần, cảng Rotterdam được xếp hạng là một trong những trung tâm lớn về logistics. Các Trung tâm Logistics châu Âu (ELCs) được đặt tại Vương quốc Hà Lan, phục vụ không chỉ cho các tập đoàn đa quốc gia mà còn phục vụ cho việc vận chuyển hàng hoá của các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Một ưu thế của ELCs là, hàng hoá được lưu tại ELCs được xem là hàng hoá quá cảnh (nghĩa là: hàng hoá chưa được nhập khẩu vào Hà Lan), vì vậy hàng hoá lưu tại ELCs không phải đóng thuế nhập khẩu hay làm các thủ tục hải quan; nhờ đó, tạo thuận lợi cho việc tái xuất hàng hoá quá cảnh mà không gặp khó khăn về đóng thuế hay làm thủ tục hải quan. Đáp ứng nhu cầu ngày một nhiều của các chủ hàng và nhà cung cấp dịch vụ phân phối, các phân khu được đặt trong cảng Rotterdam. Việc bố trí các phân khu trong cảng Rotterdam giúp tăng cường vận chuyển hàng hoá bằng container, tạo công ăn việc làm liên quan đến cảng, giảm thời gian lưu chuyển với chi phí thấp. Đây được xem là yếu tố quan trọng thúc đẩy phát triển logistics tại cảng Rotterdam. Thêm nữa, ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại, lực lượng lao động có kỹ năng, hải quan tại chỗ, các phân khu trong cảng Rotterdam được thành lập từ thập niên 80-90 của thế kỷ XX. Với tổng diện tích trên 2.000.000 m2[4], các phân khu nằm gần các ELC, tạo thuận lợi cho việc vận chuyển ít tốn thời gian và chi phí vận chuyển. Hiện tại, cảng Rotterdam triển khai số hoá, ứng dụng công nghệ vạn vật (IoT) với việc thiết lập các thiết bị cảm ứng trong khoảng cách 42 km2 kết nối từ thành phố Rotterdam đến Biển Bắc - trên biển và trên đất liền, thu thập dữ liệu về thuỷ triều, nhiệt độ, hướng gió, tốc độ gió, mớn nước[5], để phục vụ cho việc quản lý và vận hành cảng hiệu quả tối ưu.

Bến cảng Tân Vũ (Hải Phòng). Ảnh: VGP/Trọng Trí[6].

Nằm ở vùng ven biển phía Bắc của Việt Nam, với nền kinh tế dựa vào biển, Hải Phòng có 49 bến cảng, trong đó có bến cảng Container quốc tế Hải Phòng thuộc khu Bến cảng Lạch Huyện (có khả năng tiếp nhận tàu container 14.000 TUES và tàu tổng hợp có tải trọng 160.000 DWT), Cảng Nam Đình Vũ (có khả năng tiếp nhận tàu tải trọng 40.000 DWT), Cảng Tân Vũ, Cảng Đình Vũ, Cảng VIP Green, Cảng Nam Hải Đình Vũ, với tiềm năng về logistics. Với những ưu thế về vị trí địa lý, cơ sở hạ tầng, kết nối giao thông liên vùng và quốc tế thuận lợi cho phát triển nền kinh tế thành phố với sự đóng góp của ngành logistics, Hải Phòng triển khai nhiều chính sách, biện pháp thúc đẩy phát triển logistics. Nghị quyết 45-NQ/TW ngày 24/01/2019 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển thành phố Hải Phòng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, đã xác định mục tiêu của thành phố Hải Phòng đến năm 2025 trở thành trung tâm logistics quốc gia, đến năm 2030 trở thành trung tâm dịch vụ logistics quốc tế hiện đại bằng cả dường biển, đường hàng không, đường bộ cao tốc, đường sắt tốc độ cao. Nghị quyết số 02-NQ/TU ngày 02/8/2021 của Ban Thường vụ Thành uỷ Hải phòng đã nêu rõ, Hải Phòng phải phát triển dịch vụ phục vụ hoạt động cảng biển, dịch vụ logistics tương xứng với tiềm năng, lợi thế, theo chiều sâu; triển khai các cơ chế, chính sách có tính đột phá, môi trường đầu tư kinh doanh hấp dẫn, huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực đầu tư trong và ngoài nước. Uỷ ban nhân dân thành phố Hải Phòng đã ban hành Kế hoạch số 238/KH-UBND về việc triển khai Nghị quyết số 02-NQ/TU về phát triển các hoạt động dịch vụ phục vụ hoạt động cảng biển, dịch vụ logistics đến năm 2025, 2030 và tầm nhìn đến năm 2045. Với 06 nhóm nhiệm vụ chủ yếu, trong đó có các nhiệm vụ: phát triển kết cấu hạ tầng cảng biển và hạ tầng giao thông kết nối, phát triển dịch vụ phục vụ cảng biển và dịch vụ logistics, nâng cao năng lực cạnh tranh của cảng biển Hải Phòng, phát triển nguồn nhân lực, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước. Để có thể triển khai thành công các nhiệm vụ nêu trên, bên cạnh triển khai các cơ chế tạo thuận lợi cho việc thực hiện các mục tiêu nêu trên, huy động các nguồn lực trong và ngoài nước có ý nghĩa quan trọng. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế, tận dụng các cơ hội từ quan hệ hợp tác song phương và đa phương với các đối tác nước ngoài là một trong những cách tiếp cận nguồn lực (tài chính, công nghệ, chuyên gia…) để thực hiện các mục tiêu phát triển của thành phố./.

[1] https://www.marvest.de/en/magazine/ships/the-port-of-rotterdam/

[2] https://www.statista.com/statistics/914372/volume-of-general-cargo-processed-by-port-of-rotterdam-by-type/

[3] https://www.statista.com/statistics/914371/net-revenue-of-port-of-rotterdam/

[4] https://www.unescap.org/sites/default/files/pub_2194_ch4.pdf

[5] https://supplychaindigital.com/technology-4/port-rotterdam-embarks-digital-transformation-programme-ibm

[6] http://baochinhphu.vn/Kinh-te/Dinh-Vu-dua-Hai-Phong-ra-bien-lon/337199.vgp

LÊ HẠNH