Bộ Tài chính ban hành Thông tư 51/2026/TT-BTC: Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý lập Báo cáo Tài chính nhà nước, tăng cường trách nhiệm triển khai tại địa phương

Ngày 13 tháng 5 năm 2026, Bộ trưởng Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 51/2026/TT-BTC hướng dẫn lập Báo cáo tài chính nhà nước (BCTCNN). Đây là văn bản pháp lý quan trọng nhằm cụ thể hóa các quy định của Luật Kế toán, Luật Ngân sách nhà nước và Nghị định số 140/2026/NĐ-CP của Chính phủ, tạo cơ sở dữ liệu đồng bộ, minh bạch phục vụ công tác quản lý điều hành nền tài chính quốc gia. Thông tư mới quy định rõ ràng về phạm vi, đối tượng áp dụng, quy trình hợp cộng số liệu, đặc biệt giao trách nhiệm cụ thể và toàn diện cho các cơ quan tài chính ở cấp địa phương.

Bước tiến mới trong chuẩn hóa thông tin tài chính công

Thông tư số 51/2026/TT-BTC hướng dẫn chi tiết về biểu mẫu, quy trình lập, gửi, và kiểm tra tính cân đối, hợp lý, hợp lệ của Báo cáo cung cấp thông tin tài chính (BCCCTTTC); nội dung, phương pháp lập các chỉ tiêu trên BCTCNN; cùng phương án loại trừ các giao dịch nội bộ và điều chỉnh sai sót phát sinh. BCTCNN được lập định kỳ theo năm kế toán dương lịch (từ ngày 01/01 đến ngày 31/12).

Điểm nhấn nổi bật trong cơ chế quản trị mới là đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ và chuyển đổi số. Bộ Tài chính giao Kho bạc Nhà nước tổ chức vận hành, nâng cấp Hệ thống thông tin Tổng kế toán nhà nước nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý tập trung, thống nhất, bảo mật, giúp luồng thông tin tài chính từ cơ sở lên trung ương luôn thông suốt, chính xác và kịp thời.

Trách nhiệm triển khai cụ thể tại cấp địa phương

Để đảm bảo chất lượng cho Báo cáo tài chính nhà nước tỉnh, Thông tư số 51/2026/TT-BTC đã phân định rõ hệ thống biểu mẫu và trách nhiệm thực thi của từng cơ quan, đơn vị tại địa phương:

  1. Kho bạc Nhà nước khu vực: Đóng vai trò là cơ quan chủ trì, giúp Kho bạc Nhà nước tổng hợp, lập BCTCNN tỉnh. Kho bạc Nhà nước khu vực chịu trách nhiệm lập BCCCTTTC theo Mẫu số C01a/CCTT để phản ánh toàn bộ thông tin về tiền, các khoản tương đương tiền, tình hình thu, chi ngân sách địa phương (gồm cả ngân sách cấp tỉnh và cấp xã) chưa được theo dõi ở các đơn vị độc lập. Đồng thời, cơ quan này kiểm tra tính đúng đắn của số liệu đầu vào và công khai danh sách đơn vị cung cấp thông tin trên Hệ thống Tổng kế toán nhà nước.
  2. Sở Tài chính: Có trách nhiệm lập BCCCTTTC theo Mẫu số C07/CCTT để phản ánh đầy đủ thông tin về phần vốn nhà nước tại các doanh nghiệp do địa phương quản lý, cũng như thực trạng các khoản nợ của chính quyền địa phương. Bên cạnh đó, Sở Tài chính phải gửi Báo cáo tài chính hoặc Báo cáo tài chính hợp nhất của đơn vị mình đi kèm Mẫu số C08/CCTT để làm rõ chi tiết tài sản cố định đặc thù, chi phí theo từng lĩnh vực chuyên ngành. Trước ngày 15 tháng 01 hằng năm, Sở Tài chính có nghĩa vụ rà soát, lập danh sách đơn vị kế toán cấp trên cao nhất và đơn vị kế toán độc lập thuộc cấp tỉnh của năm trước liền kề để phục vụ công tác đối chiếu.
  3. Ủy ban nhân dân cấp xã: Đóng vai trò kiểm soát thông tin tài chính ở cấp cơ sở. Tương tự như cấp tỉnh, UBND cấp xã chịu trách nhiệm lập danh sách các đơn vị kế toán cấp trên cao nhất và đơn vị kế toán độc lập thuộc phạm vi quản lý của cấp xã trước ngày 15 tháng 01 hằng năm để gửi tới cơ quan Kho bạc Nhà nước.
  4. Cơ quan Thuế địa phương và các đơn vị kế toán: Cơ quan thuế lập báo cáo theo chế độ kế toán nghiệp vụ thuế nội địa nhằm làm rõ các khoản phải thu, phải trả và số thu thuế được giao quản lý. Toàn bộ các đơn vị hành chính, sự nghiệp, đơn vị kế toán độc lập hoặc cấp trên cao nhất thuộc địa phương thực hiện nghiêm túc việc lập báo cáo tài chính/báo cáo tài chính hợp nhất theo đúng chế độ kế toán hiện hành (Thông tư số 24/2024/TT-BTC và Thông tư số 108/2025/TT-BTC).

Quy trình tiếp nhận, kiểm tra dữ liệu và loại trừ giao dịch nội bộ

Mọi dữ liệu tài chính cấp địa phương bắt buộc phải gửi qua Trang thông tin điện tử Hệ thống Tổng kế toán nhà nước dưới dạng điện tử có ký chữ ký số, chỉ áp dụng bản giấy đối với tài liệu mật hoặc trường hợp bất khả kháng về hạ tầng internet.

Trong vòng 03 ngày làm việc kể từ khi tiếp nhận, Kho bạc Nhà nước các cấp phải tiến hành kiểm tra nghiêm ngặt tính hợp pháp của báo cáo, thẩm quyền phê duyệt, và sự cân đối cơ học (Tổng tài sản phải bằng Tổng nguồn vốn; số liệu so sánh năm nay phải khớp với năm trước). Nếu phát hiện sai lệch, Kho bạc sẽ từ chối nhận và đơn vị có trách nhiệm phải phối hợp giải trình, hoàn thiện để gửi lại trong vòng 05 ngày làm việc.

Đặc biệt, để tránh tình trạng trùng lặp số liệu khi tổng hợp BCTCNN tỉnh, Thông tư quy định khắt khe các giao dịch nội bộ bắt buộc phải loại trừ. Cụ thể đối với địa phương, phải thực hiện loại trừ triệt để:

  • Các khoản bổ sung cân đối ngân sách, bổ sung có mục tiêu, hoặc hoàn trả kinh phí giữa ngân sách cấp tỉnh và ngân sách cấp xã.
  • Các khoản chi, tạm ứng, ứng trước kinh phí hoạt động, kinh phí dự án, đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn ngân sách địa phương cấp cho các cơ quan, đơn vị thuộc đối tượng hợp nhất số liệu.

Đối với công tác sửa chữa sai sót, Thông tư 51/2026/TT-BTC quy định mọi lệch lạc phát sinh trong năm hiện tại phải được rà soát, điều chỉnh triệt để trước khi trình BCTCNN địa phương lên Hội đồng nhân dân tỉnh. Trường hợp phát hiện sai sót trọng yếu của các kỳ báo cáo trước sau khi đã phê duyệt, địa phương buộc phải thực hiện điều chỉnh vào số dư đầu kỳ của tài sản, nợ phải trả, tài sản thuần của năm phát hiện.

Định hướng hành động cho hệ thống tài chính địa phương

Việc ban hành Thông tư số 51/2026/TT-BTC đòi hỏi các địa phương phải khẩn trương bắt tay vào hành động. Các Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố cần sớm chỉ đạo Sở Tài chính phối hợp chặt chẽ với Kho bạc Nhà nước địa phương tổ chức các lớp tập huấn chuyên sâu, hướng dẫn kỹ thuật áp dụng biểu mẫu mới cho tất cả các đơn vị kế toán trên địa bàn.

Đồng thời, cần tăng cường kiểm tra, rà soát tiến độ cập nhật danh sách đơn vị đầu mối, kiện toàn hạ tầng công nghệ thông tin và thúc đẩy hoàn thành đồng bộ chữ ký số. Sự chủ động, quyết liệt và tuân thủ nghiêm túc các quy trình kỹ thuật tại cấp cơ sở chính là chìa khóa then chốt để đảm bảo bức tranh tài chính nhà nước luôn minh bạch, chính xác, phục vụ hiệu quả cho sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững của từng địa phương và toàn quốc./.

 

.