Bẫy thu nhập trung bình trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Bẫy thu nhập trung bình là một chướng ngại mà bất kỳ quốc gia nào cũng phải đối mặt trong quá trình công nghiệp hóa. Khái niệm “bẫy thu nhập trung bình” được Ngân hàng Thế giới (World Bank-WB) lần đầu đưa ra vào năm 2007, hay còn gọi là “Trần thủy tinh” (Ohno, 2009). Đây là thuật ngữ dùng để chỉ tình trạng một quốc gia mặc dù đã thoát nghèo, gia nhập vào nhóm nước có mức thu nhập trung bình nhưng mất nhiều thập kỷ vẫn không vươn lên để trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao. Có không ít quốc gia gặp phải tình trạng này và là sự cảnh báo đối với các quốc gia khác trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Để phân loại các nước, WB đã dựa vào tiêu chí thu nhập bình quân đầu người theo GDP hoặc theo GNI (thu nhập quốc dân)[1]. Theo đó, các nước được phân loại theo các mức: Nước chậm phát triển là nước có thu nhập thấp (low income); nước đang phát triển (developing country là nước có thu nhập trung bình (middle income); còn nước phát triển (developed country) là nước có thu nhập cao (high income). Những nước phát triển còn được gọi là các nước công nghiệp (industrial countries), hoặc các nước tiên tiến (advanced countries). Phương pháp phân loại các nước mà WB sử dụng vào năm 2009 và 2020 có sự thay đổi theo hướng tăng mức thu nhập nhằm để phù hợp hơn với thực tế và nâng cao chất lượng cuộc sống. Cụ thể, WB phân loại các nước theo thu nhập GDP bình quân đầu người năm 2009 và theo thu nhập quốc dân (GNI) năm 2020 theo bảng dưới đây:

WB phân loại các nền kinh tế theo GDP (hoặc GNI) bình quân đầu người

(Đơn vị: USD)

Năm

Tiêu chí phân loại

Thu nhập thấp

Thu nhập TB thấp

Thu nhập TB cao

Thu nhập cao

2009

GDP

Dưới 765

766 - 3.035

3.036- 9.385

Trên 9.386

2020

GNI

Dưới 1.036

1.036 - 4.045

4.046-12.535

Trên 12.535

Như vậy, năm 2020, WB phân loại các nước theo 4 nhóm dưới đây:

- Nước có thu nhập thấp: GNI dưới 1.036 USD/người/năm;

- Nước có thu nhập trung bình thấp: GNI từ 1.036 – 4.045 USD/người/năm;

- Nước có thu nhập trung bình cao: GNI từ 4.046 - 12.535 USD/người/năm;

- Nước có thu nhập cao: GNI trên 12.535 USD/người/năm.

Theo Ngân hàng Thế giới, đa số các quốc gia đạt mức thu nhập trung bình vào năm 1960 vẫn chỉ có thu nhập trung bình vào năm 2008 và chỉ có 13 quốc gia trong thống kê là thoát được bẫy thu nhập trung bình và trở thành quốc gia có thu nhập cao. Tại châu Á, chỉ có năm nước và vùng lãnh thổ thoát được bẫy, đó là Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng KôngSingapore.

Trong số các quốc gia kể trên thì Hàn Quốc là một trong những bài học thành công điển hình vượt qua bẫy thu nhập trung bình. Từ đống tro tàn, đổ nát trong chiến tranh Triều Tiên (1950-1953) và không có nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào, Hàn Quốc đã bắt đầu tiến hành công nghiệp hóa vào đầu những năm 1960 với mức khởi điểm thu nhập bình quân đầu người theo GDP khoảng 80 USD, sản xuất nông nghiệp chiếm trên 35% tổng sản phẩm trong nước. Trong giai đoạn 1960 - 1980, Hàn Quốc thực hiện mô hình sản xuất thay thế nhập khẩu, rồi chuyển sang sản xuất để xuất khẩu với các mặt hàng công nghiệp nhẹ như chế biến lương thực, dệt may, da giày; sau đó tập trung phát triển các ngành công nghiệp nặng và hóa chất có tính then chốt như: Luyện kim, cơ khí, đóng tầu, ô tô và hóa dầu. Kết quả là đầu những năm 1980, Hàn Quốc đã vươn lên đứng thứ 10 thế giới về sản xuất thép, thứ 2 thế giới về đóng tàu. Từ 1980 đến nay, Hàn Quốc chuyển hướng tập trung phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao như: điện tử, thông tin, viễn thông, hóa mỹ phẩm, công nghiệp văn hóa,…

Nhờ có chính sách kinh tế mạnh mẽ, táo bạo, tăng cường tự do hóa thị trường, trao quyền tự chủ nhiều hơn cho khu vực tư nhân, hình thành các tập đoàn kinh tế “Chaebol” như: Samsung, Huyndai, LG, Posco,…. Các ông chủ Chaebol đã coi trọng nghiên cứu và phát triển (R&D) nhằm làm chủ công nghệ, thiết kế sản phẩm, đồng thời tiến hành sản xuất quy mô lớn và hội nhập dọc với mức độ lớn nhằm chinh phục thị trường thế giới. Đáng kể nhất đó là sự nỗ lực vươn lên thành công đáng kinh ngạc của tập đoàn Samsung. Năm 1969, Samsung bắt đầu hợp tác với Sanyo sản xuất tivi đen trắng, rồi từng bước vươn lên, từ khâu cải tiến sản phẩm đến thiết kế sản phẩm mới và làm chủ hoàn toàn công nghệ. Vào những năm 2000, Samsung Electronics đã trở thành nhà sản xuất điện tử thành công nhất với 17 trung tâm nghiên cứu và phát triển trên toàn cầu với trên 120.000 lao động. Ngày nay, Samsung là một trong những thương hiệu nổi tiếng nhất, đứng thứ 5 thế giới với giá trị thương hiệu là 102,3 tỷ USD, xếp sau: Apple (263,4 tỷ USD), Amazon (254,2 tỷ USD), Google (191,2 tỷ USD) và Microsoft (140,4 tỷ USD). Bên cạnh đó, chính phủ Hàn Quốc thực thi chính sách kiểm soát chặt chẽ đầu tư trực tiếp nước ngoài nhằm bảo vệ các ngành công nghiệp trong nước, cấm nhiều mặt hàng tiêu dùng và nguyên liệu có thể sản xuất được ở trong nước.

Nhờ vậy, đến cuối những năm 1990, Hàn Quốc được đánh giá là đã hoàn thành công nghiệp hóa với mức thu nhập bình quân đầu người trên 10.000 USD. Không dừng lại ở đó, Hàn Quốc đã đề ra mục tiêu đến năm 2020, đuổi kịp hoặc vượt Nhật Bản. Trên thực tế, theo Báo cáo về năng lực cạnh tranh công nghiệp của UNIDO năm 2020, chỉ số năng lực cạnh tranh công nghiệp của Hàn Quốc đã vươn lên chiếm vị trí thứ 3 thế giới, sau Đức (số 1), Trung Quốc (thứ 2) và vượt trên cả Mỹ (thứ 4), Nhật Bản (thứ 5). Một số lĩnh vực như điện tử, bán dẫn của Hàn Quốc đã vượt Nhật. Lĩnh vực ô tô cạnh tranh với ô tô của Nhật, Mỹ; Hàn Quốc có GDP đứng thứ 10 thế giới (1.586 tỷ USD theo IMF); thu nhập bình quân đầu người trên 31.000 USD; HDI ở mức rất cao, đạt 0.916 điểm, tuổi thọ bình quân 83 tuổi....Đây quả là một kỳ tích và thường được gọi với cái tên “Kỳ tích sông Hàn”.

Bên cạnh đó, Malaysia cũng bắt đầu tiến hành CNH vào những năm 1960 như Hàn Quốc sau khi giành được độc lập. Sau một thời gian đạt tăng trưởng kinh tế cao từ thập niên 1970, Malaysia đã bước vào giai đoạn "vật lộn", phải mất 27 năm để vượt qua bẫy thu nhập trung bình, từ mức thu nhập thấp (299 USD năm 1960) lên thu nhập trung bình vào cuối những năm 1990 (3.455 USD). Đến năm 2020, thu nhập GDP bình quân/ người của Malaysia đạt 10.325 USD, chưa đạt ngưỡng tối thiểu của quốc gia thu nhập cao theo phân loại của World Bank là 12.535 USD. Như vậy, sau 60 năm, Malaysia vẫn chưa hoàn thành công nghiệp hóa, chưa phải là nước có thu nhập cao. Trong khi đó, Hàn Quốc cùng xuất phát điểm với Malaysia (năm 1960) chỉ mất 26 năm để đưa nền kinh tế từ thu nhập thấp lên thu nhập cao vào năm 1995.

Nguyên nhân của tình trạng trên là do Malaysia gặp rất nhiều thách thức do tăng trưởng không đồng đều giữa các vùng, đầu tư vào công nghệ suy giảm, việc làm kỹ năng thấp và mất cân đối trên thị trường lao động, chi phí sống tăng lên…Malaysia đã tiếp nhận nhiều FDI nhưng chủ yếu là đầu tư vào công nghệ thấp hoặc vào công trình vật chất, chủ yếu vẫn do các doanh nghiệp nước ngoài chi phối. 48% lao động nước này có kỹ năng trong khi nhu cầu thị trường chỉ là 5%, dẫn đến tỷ lệ thất nghiệp cao trong giới trẻ, vốn được đào tạo bài bản ở bậc đại học. Nước này đã "sai" khi thúc đẩy đào tạo nhiều ở bậc đại học mà xem nhẹ đào tạo nghề. Tăng trưởng nhờ yếu tố đầu vào mà không dựa vào năng suất và đổi mới sáng tạo. Theo Fitch Solution, bẫy thu nhập trung bình tiếp tục là vấn đề lớn đối với Malaysia trong 10 năm tới, khi dự báo tốc độ tăng trưởng trung bình của nền kinh tế lớn thứ ba Đông Nam Á là 3,4% trong thập kỷ tới, so với mức trung bình 6,4% của 10 năm trước.

Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, nguyên nhân rơi vào Bẫy thu nhập trung bình là do các quốc gia hay các nền kinh tế không duy trì được tốc độ tăng trưởng liên tục; hệ thống cơ sở hạ tầng phát triển không đồng bộ; không đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, dẫn đến sự suy giảm hiệu quả đầu tư. Mặt khác là do công nghiệp hỗ trợ chậm phát triển, chủ yếu vẫn là duy trì hình thức gia công, lắp ráp sản phẩm bằng các nguyên phụ liệu nhập khẩu từ nước ngoài; nguồn nhân lực chất lượng thấp dẫn đến năng suất lao động thấp. Ngoài ra là vấn đề ô nhiễm môi trường, tham nhũng, phân hóa giàu nghèo làm gia tăng bất bình đẳng xã hội.

Tuy nhiên, bên cạnh những nguyên nhân chủ quan thì những nguyên nhân khách quan, đồng thời cũng là những thách thức nổi lên trong quá trình CNH của các nước. Đó là: Nền kinh tế thế giới đang có sự bất bình đẳng và được toàn cầu hóa, bị chi phối bới các công ty đa quốc gia và đặc trưng bởi các chuỗi giá trị toàn cầu bị chia cắt; khoảng trống cho các chính sách của các nước đi sau bị co hẹp. Bên cạnh đó, các nước đang phát triển có thể rơi vào trạng thái không thể cạnh tranh với Trung Quốc, Ấn Độ và các nước phát triển về mặt chi phí, lại thiếu công nghệ, thiếu kỹ năng và cơ hội tiếp cận thị trường để cạnh tranh ở những phân khúc cao trong chuỗi giá trị. Ngoài ra, đó là sự thiếu hụt các nguồn lực tài chính đầu tư dài hạn cho công nghiệp dẫn đến sự phụ thuộc ngày càng lớn vào FDI và công nghệ của các nước phát triển. Ngoài ra, không thể không nói đến tác động từ sự nóng lên của trái đất đang làm biến đổi khí hậu toàn cầu và nước biển dâng cùng với sự xuất hiện của dịch bệnh nguy hiểm (như đại dịch Covid-19 đang diễn ra) gây khó khăn và nhiều hệ lụy, làm chậm quá trình CNH.

Trong bối cảnh các quốc gia đang ngày càng phải đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức như nêu trên thì bài học rút ra trong quá trình CNH của Hàn Quốc và Malaysia là những kinh nghiệm quý nhằm giúp cho các nước đang trong quá trình công nghiệp hóa có những chiến lược và giải pháp phù hợp, sớm thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình và đạt được những mục tiêu đã đề ra.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Kenichi Ohno (2016), Chất lượng của chính sách ngành và bẫy thu nhập trung bình: So sánh Việt Nam với các quốc gia khác, ĐHQGHN, Tạp chí Khoa học (Vol.32, IS,2016).
  2. Oxford, Con đường công nghiệp hóa trong thế kỷ XXI, NXB Chính trị Quốc gia Sự thật năm 2019.
  3. Nguyễn Minh Phong (2014), Bẫy thu nhập trung bình và ứng phó của Việt Nam, Tạp chí Lý luận Chính trị số 2-2014.
  4. Trần Văn Thọ (2016), Công nghiệp hóa Việt Nam trong giai đoạn mới, ĐHQGHN, Tạp chí Khoa học (Vol.32, IS,2016).
  5. UNIDO, Industrialization in the Digital Age: More Important Than Ever, Industrial Development Report 2020.
  6. UNIDO, Competitive Industrial Performance Report 2020
  7. UNDP, Human Development Report 2020
World Bank, New World Bank country classifications by income level:2020-2021 (https://blogs.worldbank.org/opendata/new-country-classifications-income-level-2020-2021).

[1] Thu nhập quốc dân GNI thường bằng khoảng 0,93 – 0,97 GDP

TS. PHẠM HỮU THƯ - Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố