
Cuộc sống diễn ra chậm rãi tại làng chài Cái Bèo. Trong ảnh: Thuyền nan là phương tiện di chuyển của ngư dân nơi đây nếu không có việc phải đi xa.
Có một góc nhỏ êm đềm tại quần đảo Cát Bà mà du khách ưa trải nghiệm, khám phá thường ghé thăm, đó là làng chài Cái Bèo trên vịnh Lan Hạ thuộc thị trấn Cát Bà (huyện Cát Hải). Bao năm qua, giữa khu du lịch Cát Bà luôn sôi động, nhất là vào mùa du lịch biển, nơi đây vẫn giữ được sự yên tĩnh, thanh bình, nhịp sống êm đềm, chậm rãi cùng những chủ nhà luôn thân thiện, hiếu khách…
Rời Bến tàu khách Cái Bèo lúc mặt trời lên cao quá con sào, chiếc ca nô nổ máy giòn giã rồi lao vút trên mặt biển, đưa chúng tôi ra thăm làng chài Cái Bèo. Sau hơn 10 phút rẽ sóng, khi những ngôi nhà bằng gỗ thấp lè tè nằm giữa cơ man lồng bè nuôi hải sản san sát hiện ra trước mắt, người lái giảm ga cho ca nô chạy rề rà rồi quay sang giải thích, chạy chậm tránh tạo sóng làm lay động lồng bè khiến bầy cá nuôi hoảng sợ. Không chỉ ca nô chở chúng tôi, mà ca nô, tàu, thuyền máy, thuyền nan chèo tay qua lại như mắc cửi tại khu vực này đều di chuyển một cách chậm rãi trên mặt biển lăn tăn sóng. Đến những con chó được nuôi để canh giữ lồng bè, cũng kiệm tiếng sủa trong lúc nhẩn nha đặt từng bước chân trên thanh gỗ nhỏ mỏng manh nối liền các lồng bè.
Đến trung tâm làng chài Cái Bèo, chúng tôi ghé thăm khu vực lồng bè của gia đình anh Bùi Văn Luyện. Quây quần quanh chiếc bàn gỗ nhỏ giữa nhịp tròng trành sóng nước, vẳng tiếng cá quẫy nước tranh mồi, giữa bầu không khí đặc quánh hương vị ngai ngái, nồng nồng đặc trưng của biển, anh Luyện tâm sự về quãng đời “ba chìm, bảy nổi” gắn chặt với nghề nuôi hải sản lồng bè, với quê hương thứ 2 của mình. Sinh ra và lớn lên ở xã Hiệp Hòa, huyện Yên Hưng (nay là thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh) trong gia đình có 7 anh chị em, mới hơn 13 tuổi, cậu bé “Tý Luyện” (biệt danh bạn bè đặt cho anh vì dáng người nhỏ thó, nhanh nhẹn) đã theo cha và các anh ra khơi làm nghề câu cá. Ngư trường Cát Bà, trong đó có vụng Cái Bèo, là nơi thuyền nan của gia đình anh thường thả neo buông câu vì lắm tôm, nhiều cá, lại yên tĩnh.
Sau khi xuất ngũ, anh Luyện quay trở lại với nghề câu cá biển. Năm 1990, trong một lần đi câu ở vụng Cái Bèo, thấy ngư dân bán cá song giống chỉ khoảng 3.500- 4.000 đồng/kg, trong khi thương lái nước ngoài thu mua tới 80.000 đồng/kg, anh thuyết phục anh em trong gia đình, bạn bè chung vốn sắm tàu thu mua cá giống bán lại cho thương lái nước ngoài. Sau vài chục chuyến tàu đầy vơi, khi có trong tay số vốn kha khá và học được kinh nghiệm nuôi cá lồng bè, anh Luyện bàn với mọi người bỏ nghề buôn quay sang nuôi cá lồng bè. Ban đầu, anh thuê ngư dân đan lưới, cho xẻ gỗ đóng khung làm 5 lồng bè trên vụng Cái Bèo nuôi thử nghiệm. “Ngày đó khu vực này rất hoang sơ, cả làng chài Cái Bèo chỉ có hơn 10 hộ làm nghề chài lưới, cuộc sống rất vất vả, khó khăn. Sau thấy nghề nuôi cá lồng bè có hiệu quả kinh tế cao, các hộ dân nơi đây cùng nhiều hộ ở huyện đảo Cát Hải theo nghề, làng chài dần đông đúc. Giai đoạn cao điểm từ năm 2000 đến năm 2007, cả làng có hơn 270 hộ làm nghề nuôi cá lồng bè. Hiện cắt giảm còn hơn 200 hộ, hộ ít có khoảng hơn 10 ô lồng bè, hộ nhiều hơn 100 ô. Dù được lấy theo tên làng chài cổ Cái Bèo có lịch sử hàng nghìn năm, nhưng hầu hết các hộ dân ở đây làm nghề nuôi cá lồng bè, ít hộ theo nghề chài lưới”, anh Luyện chia sẻ.
Về quãng thời gian “ba chìm, bảy nổi” của bản thân cũng như làng chài Cái Bèo, anh Luyện kể lại, năm 1991, cả làng chài nuôi cá song chấm. Riêng gia đình anh có 20 lồng bè nuôi hơn 1 vạn con. Đây là loài cá được thị trường nước ngoài ưa chuộng. Nghe tiếng người dân làng chài Cái Bèo nuôi cá song chấm, thương lái nước ngoài ùn ùn kéo đến tìm hiểu và đặt cọc tiền bao tiêu đầu ra. Riêng với số cá của gia đình anh Luyện, có thương lái đặt cọc số tiền lên tới 11 nghìn đô-la. Thế nhưng, khi sắp thu hoạch, bỗng nhiên bầy cá đổ bệnh ngoài da. Theo kinh nghiệm, khi cá bị loại bệnh này, chỉ cần “tắm” là khỏi. Đối với các loại cá sinh sống trong môi trường nước mặn, “tắm” khoảng 3-5 phút bằng nước ngọt pha thuốc sát trùng, sát khuẩn và ngược lại. Thế nhưng, hôm trước “tắm” cho cá, hôm sau người nuôi cá lồng bè ở đây “khóc ròng” vì cá đang khỏe mạnh bỗng chuyển sang tư thế… bơi lắc lư, quá nửa đàn ngửa bụng. Gia đình anh Luyện “tắm” 13 lồng bè, cá ở chừng ấy lồng bè chết sạch. Còn lại 7 lồng bè chưa kịp “tắm”, anh Luyện cũng như các hộ khác quyết định “đánh bạc với giời” để kệ đó, chỉ “tắm” những con bị bệnh. May mắn sau đó, tỷ lệ cá còn sống đến khi thu hoạch đạt hơn 70%, gia đình anh Luyện và nhiều hộ bán đi đủ trả tiền đặt cọc và mua cá giống cho vụ kế tiếp.
Sau phen “hú hồn” đó, các hộ nuôi cá lồng bè ở đây có được “bài học xương máu” là không “đánh bạc” nuôi 1 loài cá dù hiệu quả kinh tế cao, mà theo nhu cầu của thị trường, điều kiện nước, khí hậu chọn nuôi các loài cá phù hợp theo phương châm “lấy ngắn nuôi dài”, “lấy phát triển bền vững, chắc chắn làm nền tảng”. Vì thế, trước đây, các hộ chủ yếu nuôi cá song chấm và song gầu, nay nuôi thêm nhiều loại cá đặc sản khác như: cá giò, cá song vua, cá côi, cá sủ sao… Đặc biệt, từ năm 2015-2016, khi điện lưới và nước máy được đưa từ đảo chính Cát Bà ra tới từng hộ ở làng chài, người dân nơi đây có thêm nghề tay trái là làm du lịch, như: đưa du khách tham quan lồng bè, tìm hiểu nghề nuôi cá, cung cấp dịch vụ ăn uống, nghỉ ngơi tại bè… Nuôi cá lồng bè kết hợp với làm du lịch đem lại cho các hộ thu nhập 200-300 triệu đồng/năm trở lên, nhiều hộ lên tới hàng tỷ đồng/năm. Ngoài lồng bè, gần 100% số hộ có nhà khang trang trên đảo chính Cát Bà, Cát Hải, đất liền, nhiều hộ tài khoản gửi ngân hàng có số tiền gửi lên tới 9, 10 con số.
“Sau quãng thời gian phát triển “quá nóng”, giai đoạn 2012-2013, thành phố và huyện đảo Cát Hải có chủ trương hạn chế không cho đóng ô lồng, phát sinh hộ nuôi mới, sau đó tháo dỡ bớt các ô lồng bè, giảm số hộ nuôi bảo đảm vệ sinh môi trường, gìn giữ cảnh quan tự nhiên các vịnh. Chấp hành chủ trương đúng đắn này, mặc dù nghề nuôi cá lồng bè đem lại hiệu quả cao, nhưng tất cả vì cộng đồng, vì phát triển bền vững của nghề, của huyện đảo, thời gian qua, gia đình tôi và nhiều hộ nuôi cá lồng bè ở làng chài Cái Bèo tự nguyện tháo dỡ hàng trăm ô lồng bè. Riêng gia đình tôi, từ năm 2015 đến nay, cắt giảm 2 lần với hơn 30 ô lồng bè”, anh Luyện cho biết. Rời đi lúc mặt trời đứng bóng, chiếc ca nô lặng lẽ rẽ nước đưa chúng tôi trở lại Bến tàu khách Cái Bèo. Giữa mênh mông, bao la rừng biển, làng chài Cái Bèo xa dần đến khi chỉ như khoảnh xám bồng bềnh theo nhịp sóng nước. Thấy mọi người đều ngoái lại nhìn, người lái ca nô, vốn kiệm lời trong suốt chuyến đi, nhấm nháy hẹn hò: Khi nào thấy mệt mỏi với nhịp sống ồn ã, bận rộn nơi phố thị, mời anh chị về thăm lại làng chài…/.