Đức vương Ngô Quyền với mảnh đất Hải Phòng

Chiến thắng trên sông Bạch Đằng năm 938 đã đưa Ngô Quyền trở thành vị thần tối thượng trong lòng dân tộc Việt Nam. Chính vì vậy, bên cạnh Từ Lương Xâm, nhiều địa phương ở Hải Phòng đã cho xây dựng những di tích thờ tự Đức Vương Ngô Quyền

Hiện nay, trong hệ thống di tích thờ tự Ngô Quyền trên Hải Phòng có 17 di tích quốc gia, 14 di tích cấp thành phố và 6 di tích chưa xếp hạng. Các di tích thờ tự Ngô Quyền trên địa bàn thành phố Hải Phòng đều gắn với các sự kiện lịch sử chiến thắng của ông chống quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, vì vậy, nó mang nhiều giá trị lịch sử khác nhau, là không gian lưu giữ và tái hiện những di sản văn hóa của dân tộc.

Là một trong số 17 làng xã có hệ thống bố phòng, tích chứa quân lương của Ngô Quyền nên Trung Hành được các triều đại kế tiếp phong sắc, hạ chỉ thờ phụng Ngô vương. Trung Hành là tên của một làng thuộc tổng Trung Hành, huyện An Dương, phủ Kinh Môn, trấn Hải Dương xưa, nay thuộc thuộc phường Đằng Lâm, quận Hải An, Hải Phòng. Xưa kia là vùng đất Ngô Quyền đóng quân và huy động sức người, sức của, đánh quân xâm lược Nam Hán năm 938, mở đầu kỷ nguyên độc lập lâu dài của đất nước. Miếu - chùa Trung Hành là cụm di tích được Bộ Văn hoá Thông tin xếp hạng di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia theo Quyết định số 57 VH/QĐ ngày 18/01/1993. Cụm di tích này tọa lạc trong một khuôn viên rộng rãi và đẹp, nằm cạnh tuyến đường lớn Lê Hồng Phong nối liền sân bay Cát Bi với trung tâm thành phố.

 

Vẻ đẹp cổ kính và linh thiêng của chùa Trung Hành (Ảnh: Sưu tầm)

Miếu Trung Hành thờ Ngô Quyền có quy mô vừa phải. Miếu được trùng tu lớn vào khoảng thế kỷ 17 mà dấu vết còn để lại trên 4 cây cột cái sơn son tại tòa bái đường. Những điểm nổi bật của di tích là sự hợp lý, liên hoàn của toàn bộ khuôn viên di tích. Miếu có quy mô khép kín, được bố cục theo kiểu nội công ngoại quốc gồm: cổng tam quan, toà bái đường, hai bên giải vũ và tòa hậu cung (cung trong và cung ngoài). Nhưng lại tạo ra một không gian mở bởi 2 bên nhà giải vũ đứng song hành nơi bái đường với thềm hiên cung ngoài…

Nằm ngay bên cạnh miếu là chùa Trung Hành, tên chữ là Hưng Khánh Tự. Theo truyền ngôn chùa được khởi dựng từ khá sớm khoảng thời Lý - Trần. Song dấu vết vật chất còn để lại có niên đại sớm nhất là thời nhà Mạc (thế kỷ 16). Chùa có quy mô khá lớn, có bố cục kiến trúc truyền thống: tam quan - gác chuông, toà Phật điện, nhà thờ tổ, vườn bia, mộ tháp. Có thể nói chùa Trung Hành còn bảo lưu khá hoàn chỉnh về bố cục các công trình kiến trúc và quy hoạch không gian của một ngôi chùa làng thời Mạc điển hình ở Hải Phòng.

Cũng nằm tại quận Hải An, Miếu Hạ Lũng là một trong nhiều di tích nằm ở vùng hạ lưu sông Bạch Đằng, trong hệ thống các công trình kiến trúc nghệ thuật cổ mà nhân dân các làng xã cổ Hải Phòng xây dựng nên để ghi nhớ công lao đánh giặc của Đức Ngô Vương Quyền và chiến thắng Bạch Đằng năm 938.

 

Kiến trúc ngôi miếu Hạ Lũng (Ảnh: Sưu tầm)

Di tích Miếu Hạ Lũng đã được Nhà Nước xếp hạng di tích năm 1992. Kiến trúc của di tích được bố cục Tiền Quốc Hậu Đinh, toàn cảnh trang trí nội thất từ miếu đầu đao, bờ nóc tới các tòa kiến trúc đều được bố cục mạch lạc, đăng đối qua nhiều biểu tượng quen thuộc gần gũi với đời sống dân cư nông nghiệp. Tại nơi trang trọng của hậu cung, đặt một cỗ khám cổ có tượng chân dung Đức Ngô Vương trong thế thiết triều. Tượng thể hiện một gương mặt uy phong lẫm liệt, đầu đội mũ gắn vương miện, lưng khoác long bào trang trí hình rồng, mây bông cụm. Hàng năm nhân dân địa phương thường tổ chức tại Miếu Hạ Lũng nghi vệ thành hoàng làng Ngô Vương Quyền vào ngày 17/01  âm lịch, thu hút đông đảo khách thập phương tới dự.

 

Đình Xâm Bồ tại Hải An, Hải Phòng (Ảnh: Sưu tầm)

Trong quẩn thể các di tích thờ tự Ngô Vương tại quận Hải An không thể không nhắc tới di tích Đình Xâm Bồ. Theo truyền miệng ở địa phương, đình Xâm Bồ được khởi dựng tại nơi có dấu vết vòng thành - địa điểm đồn trú của quân Ngô Quyền khi đánh giặc ở cửa sông Bạch Đằng năm 938.

Đình được xây theo lối kiến trúc cổ người Việt không có móng chịu lực, toàn bộ phần khung gỗ được cất lên bởi sự liên kết các khung gỗ nối qua các mộng thắt hình mang cá. Đình có bố cục hình chữ Đinh gồm 5 gian tiền đường và 3 gian cung chuôi vồ. Công trình kiến trúc này có trên 40 cây cột lớn, nhỏ, đặt trên các đấu chân tảng, bằng đá xanh, hình vuông, liền thân cổ bồng. Trước sân đình xây ngũ môn gồm cổng giữa kiểu tam quan và 2 cổng bên tường hồi đối nhau kiểu nhất môn hai tầng, tám mái. Mái đình lợp ngói ta hai lớp “mái đao tàu thực”, bờ nóc đắp những linh vật thiêng theo thể đăng đối, rồng chầu mặt trời, kìm ngâm bờ nóc mái và nghê chầu.

Tục thờ Đức Vương Ngô Quyền là hình thái tín ngưỡng phổ biến không chỉ thể hiện truyền thống uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ người trồng cây mà còn thể hiện niềm tin của cộng đồng để đạt đến sự cân bằng đời sống tâm linh, qua đó giúp con người thêm lạc quan, vững tin trong cuộc sống thực tại. Với người dân nơi đây, Ngô Quyền đã trở thành vị phúc thần luôn gần gũi, bảo vệ, che chở cho cuộc sống người dân, những nghi thức thờ tự ông vẫn được duy trì và gìn giữ cho đến ngày nay./.

BAN BIÊN TẬP