Đình Kiền Bái nằm ở xã Kiền Bái, huyện Thuỷ Nguyên, Hải Phòng. Khi xưa, Kiền Bái còn có tên là Hổ Bái Trang thuộc huyện Thuỷ Đường, phủ Kinh Môn, trấn Hải Dương.

- Lược sử di tích của Đình Kiền Bái
Theo "Thuỷ Nguyên huyện thần tích" hiện lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm - Hà Nội, đình Kiền Bái được nhân dân lập nên và thờ hai vị thành hoàng Tòng Tiền và Lôi Công, là hai anh em sinh đôi. Tương truyền, 2 vị đều khôi ngô tuấn tú, nhưng đều mất sớm, rất linh thiêng, đã nhiều lần phù hộ dân làng Kiền có cuộc sống yên ổn, làm ăn thịnh vượng. Khi quân Nguyên sang xâm lược nước ta (1287 - 1288), 2 vị âm phù Vua Trần đánh giặc. Vua cho lập đền thờ và phong thần hiệu: Trung Quốc Cảm ứng thượng đẳng thần và Lôi Công Uy Diệu thượng Đẳng thần.

Ban thờ hai vị thần Tòng Tiền và Lôi Công
Năm 1288, Hưng Đạo Đại Vương chỉ huy tướng lĩnh thủy bộ qua đây để mở trận địa trên sông Bạch Đằng, ông cho quân nghỉ ngơi qua đêm ở trang Hổ Bái. Đêm ấy, hai vị thần Tòng Tiền và Lôi Công hiển linh về báo mộng cho Quốc Công, hứa sẽ nổi “âm phong” - gió Đông Nam để tạt bè lửa vào quân giặc, góp phần âm phù giết giặc. Sau thắng lợi trên sông Bạch Đằng, Tiết chế Quốc Công Hưng Đạo Đại Vương thấy giấc mộng linh nghiệm, bèn cấp cho dân làng 300 quan tiền để tu sửa đình Kiền Bái khang trang hơn, đồng thời xin vua ban cấp sắc phong thần hiệu là Trung Quốc Cảm ứng thượng đẳng thần và Lôi Công Uy Diệu thượng đẳng thần. Hiện nay, trên thân cột cái đình Kiền vẫn còn dòng chữ ghi “ Chính Hòa lục niên”, tức năm 1685 Dương lịch.
- Giá trị kiến trúc và nghệ thuật của di tích

Mặt tiền của Đình với hai sập thờ đá đối xứng qua gian giữa tiền tế, được làm vào năm 1893

Bia đá, nơi ghi lại niên đại và quá trình tồn tại của di tích
Đình Kiền Bái được xây dựng vào nửa cuối thế kỉ 17, kiến trúc hoàn toàn làm bằng gỗ lim, là ngôi đình hiếm hoi ở Hải Phòng còn giữ được hệ thống ván sàn từ khi khởi dựng. Đình ngoài hay còn gọi là tiền đường gồm ba gian, gian giữa là nơi tiến hành các nghi lễ tế tự. Đình trong (hậu cung) gồm ba gian chuôi vồ là nơi an tọa của Đức Thành Hoàng bản thổ.Hệ mái đình có 4 mái, lập ngói mũi hài, hoành mái có tiết diện vuông, trên mái bố trí các con giống. Hậu cung được nối vuông với toàn tiền tế tại vị trí gian giữa, chiều ngang bằng chiều rộng gian giữa tiền tế, chiều dài 8,3m. Hậu cung có kết cấu tương tự toàn Tiền tế.

Gian giữa với ban thờ chính của đình

Ban thờ trong đình

Bên trong đình còn nguyên vẹn sàn gỗ

Nghệ thuật khắc, chạm hiếm có trên các kiến trúc gỗ của di tích
Đình Kiền Bái có sức hấp dẫn du khách thập phương, các nhà nghiên cứu không chỉ ở giá trị lịch sử mà còn do nghệ thuật trang trí kiến trúc tài hoa và phóng khoáng của người xưa. Cả công trình là một bộ sưu tập tranh điêu khắc gỗ quý giá được tạo tác trên nền của một kiến trúc cổ kính và tao nhã.Nghệ thuật trang trí ở đình Kiền Bái chủ yếu được tập trung thể hiện trên các vị trí có điều kiện phô diễn được vẻ đẹp của mình. Rồng là đề tài phổ biến và có mật độ khá dày đặc trong các hoạt cảnh trang trí.Ở mỗi mảng chạm khắc dù là chạm nổi hay chạm lộng hay chạm bong kênh, bong hình thì giữa trung tâm bao giờ cũng là một rồng lớn (rồng mẹ) có thân mập, ngắn lượn từ dưới lên, đầu ngóc cao, mặt quay ra ngoài.

Hình ảnh kiệu rồng

Hình ảnh điêu khắc gỗ quý giá của đình qua năm tháng
Rồng có đầu to, trán dô, miệng há rộng, mũi sư tử và tóc là các cụm đao lửa hình mũi mác bay về sau tạo cảm giác động trong không gian tĩnh.Thân rồng tròn lẳn phủ một lớp vảy rắn nổi, chân có bốn móng sắc nhọn như cựa gà chọi. Chung quanh rồng mẹ dù đang vuốt râu hay hí thủy, có rất nhiều rồng con trong một tổng số lẻ như: 5, 7, 9, 11 và 13.Đi kèm với rồng là những con vật trong hàng tứ linh như phượng, lân. Phượng thường được thể hiện trong tư thế trình diễn nghệ thuật “gia truyền” với những động tác múa uyển chuyển và kiêu sa.Con rồng không chỉ được thể hiện cùng đồng loại hay các bậc tứ linh mà nó còn hòa mình với các con thú khác không phải là con vật “linh” ở trên các bộ vì nóc hay mặt ngoài các ván bưng. Đó là những con vật rất đỗi thân quen với làng quê và con người Việt Nam, như lợn, chó, dê, nai, mèo, cá... nhiều nhất vẫn là lợn.Lợn có thân hình mập mạp như trong tranh Đông Hồ nhưng lại nghịch ngợm như các chú lợn rừng hoang dã. Lợn ngồi trên lưng nắm râu, cầm tóc và còn cả gan gặm chặt lấy đuôi rồng.Ngoài ra, đình còn có những tiểu cảnh đậm vẻ làng quê yên bình như lợn ăn lá dáy, mèo ngủ ngày, người cưỡi voi, ngựa voi âu yếm, voi chiến đua tài...

Hình ảnh trống và chiêng đồng đặt bên trong đình
- Giá trị văn hóa của Đình Kiền Bái

Bằng công nhận Di tích lịch sử văn hóa của Đình Kiền Bái
Bên cạnh nét kiến trúc mang vẻ đẹp cổ xưa độc đáo, đình Kiền Bái cũng được biết đến là nơi tổ chức nhiều lễ hội lớn được tổ chức từ ngày 10 đến ngày 13 tháng Giêng âm lịch hàng năm. Vào những ngày này, dân làng ra đình tế lễ và nô nức vào hội: Hội hát đúm, hội nấu bánh chưng, trò chơi dân gian cướp cây bông…gắn kết người dân, nâng cao đời sống tinh thần và duy trì nét độc đáo của văn hóa Việt.

Người dân đến chiêm bái tại Đình vào ngày lễ, tết (Ảnh: Sưu tầm)
Đình Kiền Bái là một di tích kiến trúc tiêu biểu ở thời hậu Lê, là sản phẩm văn hóa của thế kỷ XVII – thế kỷ phát triển rực rỡ nhất của nghệ thuật dân gian. Các bức chạm khắc có giá trị to lớn, thể hiện tính dân tộc sâu sắc, với đề tài phong phú từ con người cho đến con vật gần gũi với đồng quê. Với những giá trị về lịch sử và kiến trúc nghệ thuật đó, Đình Kiền Bái được Nhà nước xếp hạng là di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia năm 1986./.